Thursday, May 14, 2026

Huyền Thoại Biệt Kích Cowboy 03/05/2016 Orchid Thanh Lê

 

Bài số: 3810-17-30310vb3050316
Tác giả Orchid Thanh Lê hiện làm việc tại Viện Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (DLIFLC) tại Monterey, California, có nhiệm vụ hỗ trợ tiếng Việt cho Văn Phòng Tìm Quân Nhân Mỹ Mất Tích Trong Chiến Tranh Việt Nam (DPAA). Bài viết dưới đây là sự tường thuật về một cuộc phỏng vấn của tác giả với một chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ thường được ca tụng với biệt danh “Cowboy” từ giới Biệt Kích Mỹ thời chiến tranh Việt Nam.
* * *
Xin vinh danh sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam.
Một buổi sáng khi lớp học bắt đầu, tôi háo hức nói với người sinh viên:
- Tôi vừa nhận được một điện thư có thông tin liên quan về hồ sơ ngày 28 tháng 3 năm 1968 từ một người ký tên Cowboy Khánh Đoàn.
Bất ngờ anh sinh viên bật dậy từ ghế ngồi, chồm lên phía trước với vẻ mặt rạng rỡ:
- Cowboy Khánh Đoàn ư? Chúng ta gặp may rồi vì sẽ được thêm nhiều thông tin hữu ích. Cô có biết rằng Biệt Kích Mỹ thời chiến tranh Việt Nam khi nghe đến tên “Cowboy Khánh Đoàn” thì ngả mũ khâm phục không?
- Tôi nào biết! Chẳng phải Cowboy chỉ là một chàng trai đội mũ rộng vành, đi ủng có gắn miếng thép ở gót để thúc ngựa, mặc quần jean Levi's hoặc quần da, cưỡi ngựa giỏi, hay tham gia đấu súng và bắn giỏi bằng cả hai tay, uống rượu trong quán nơi thường xảy ra các cuộc xung đột đó sao?

- Chưa đủ cô ạ. Rộng hơn, Cowboy còn có nghĩa là một người hùng thích phiêu lưu bất kể mọi tình huống hiểm nguy, theo đuổi một nghề nghiệp đòi hỏi sức chịu đựng bền bỉ và lòng can đảm phi thường; nhất là từ khi hàng loạt phim Hollywood về miền Tây hoang dã ra đời thì hình ảnh chàng chăn bò dần được thay thế bằng hình ảnh một chàng trai hành hiệp trượng nghĩa chiến đấu chống lại cái ác.
- Vậy huyền thoại Cowboy của lịch sử Mỹ có liên quan gì đến Cowboy Khánh Đoàn?
Nghe tôi thắc mắc, anh sinh viên mỉm cười:
- Dĩ nhiên tôi có thể kể cho cô nghe những điều tôi biết về người Biệt Kích Lôi Hổ với biệt danh “Cowboy” này nhưng nếu cô hỏi ngay nhân vật chính thì chẳng phải nhiều lý thú hơn sao?
Phải đấy, tôi thật sự muốn biết về Biệt Kích Lôi Hổ nói chung và người có biệt danh Cowboy nói riêng. Tôi tự tìm hiểu sơ qua về Biệt Kích Lôi Hổ trước khi liên lạc với người mình muốn chuyện trò.

Bối cảnh thành lập Biệt Kích Lôi Hổ bắt đầu từ đầu năm 1964 khi Mỹ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát và phá hủy những mật khu và đường mòn Hồ Chí Minh mà Bắc Việt dùng để chuyển quân và vũ khí với ý đồ thôn tính miền Nam.
Để tránh vi phạm luật lệ qui ước về hiệp định chiến tranh quốc tế ký kết tại Genèva năm 1954, Mỹ thành lập Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam (Military Assistance Command Vietnams Studies and Observation Group – MACVSOG) mà trong đó những thanh niên khỏe mạnh, tinh nhuệ, đa số là người Nùng, được chọn để trở thành Biệt Kích Lôi Hổ. Việc huấn luyện, lương hướng, quân trang, quân dụng do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát và được hưởng qui chế tương đương như những quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ phục vụ tại Việt Nam.
Những gì tôi biết về Biệt Kích Lôi Hổ quá ít ỏi. Cowboy lại kiệm lời, kín đáo, không dễ khơi chuyện. Ngoài những thông tin ông cung cấp nhằm hỗ trợ công tác của Văn Phòng tôi đang trợ giúp, ông không thổ lộ gì hơn. Cuộc nói chuyện qua điện thoại với ông dẫn đến điều tôi muốn biết nhân vật lịch sử nào mà Cowboy yêu thích thì được ông trả lời bằng câu hỏi ngược lại:
- Thế cháu có biết cuốn phim “PT-109” mà trong đó chú thần tượng nhân vật cựu tổng thống Kennedy vào thời điểm đó mới mang cấp bậc trung úy Hải Quân?
- Dạ, có chứ! Cháu còn nhớ sự kiện PT-109 đã đi vào âm nhạc Mỹ với sáng tác mang tên “PT-109” của Jimmy Dean.
Cuốn phim dựa trên nội dung câu chuyện thật của cựu tổng thống Kennedy được sản xuất từ năm 1963 đã đi vào lòng người xem những cảm xúc nhất định. Chú cháu tôi hào hứng nối tiếp nhau nhắc lại nội dung câu chuyện:

“PT-109 là sự kiện chìm tàu phóng ngư lôi mà thuyền trưởng là cựu tổng thống Kennedy đang mang cấp bậc trung úy vào năm 1943 thời Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sứ mệnh của tàu phóng ngư lôi là di chuyển sát với một tàu khu trục Nhật Bản ở Solomons trong bóng tối và sau đó tấn công bằng ngư lôi. Sinh hoạt trong vùng chiến sự ở Nam Thái Bình Dương luôn đầy hiểm nguy, khó khăn và thiếu thốn. Tàu PT-109 của trung úy Kennedy không có liên lạc bằng vô tuyến, không được trang bị dẫn đường bằng radar trong lúc bị tàu khu trục Amagiri của Nhật Bản cắt ngang qua mũi tàu theo đường chéo.
Xin vinh danh sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam.
Trung úy Kennedy ngã nhào xuống, va vào vách ngăn thép. Hai thủy thủ mất tích. Bảy người bị rơi xuống vùng biển đầy cá mập trong tiếng la hét hoảng loạn. Còn 11 người, họ bấu víu vào vòm tàu bị lật úp, lênh đênh cả đêm trên biển Thái Bình Dương, xung quanh là các hòn đảo của kẻ thù.
Không thức ăn, không nước uống, không sóng vô tuyến, không bè cứu sinh, không thuốc men. Tất cả đã bị dạt tứ tung trên mặt biển. Tàu trôi chậm về phía nam. Khi nhận thấy tàu sắp chìm, họ quyết định bỏ tàu và bơi vào bờ. Trung úy Kennedy dùng răng giữ dây buộc phao cứu sinh của một thủy thủ bị bỏng nặng và cõng người này trên lưng, bơi về phía hòn đảo cách đó gần sáu ki-lô-mét.
Họ mệt lả, kiệt sức khi tới được hòn đảo hoang vắng. Họ phải bò vào các bụi cây để trốn tàu của Nhật. Trên đảo không có thức ăn, nước uống, không có gì có thể tận dụng được nhằm duy trì sự sống. Hòn đảo là một cái bẫy tử thần mà đường kính chỉ vỏn vẹn 91 mét. Trung úy Kennedy quyết định bơi từ đảo này đến đảo khác để tìm xem có tàu PT nào đi ngang qua không. Cuối cùng, anh đã dẫn cả đội tới đảo Olasana và thủy thủ đoàn PT-109 được cứu thoát.”
Hiển nhiên là cuốn phim đã ảnh hưởng sâu đậm đến định hướng binh nghiệp của Cowboy: chọn Biệt Kích Lôi Hổ để chiến đấu với kẻ địch, với bệnh tật, với thiên nhiên, để trải nghiệm mưu sinh thoát hiểm, và để được trui rèn trong nghiệp vụ tình báo và kỹ thuật tác chiến.
Nghe tôi nhất định nhận là có chung họ Hồng Bàng với ông và nằn nì ông kể thêm về Biệt Kích Lôi Hổ nhằm hiểu đúng hơn, Cowboy phải bật cười:
- Vậy thì chú sẽ bắt đầu từ kỷ niệm đầu tiên lúc gia nhập Biệt Kích.
Ngày ấy chàng trai vừa được tuyển mộ đang trong thời gian chờ đợi để đơn vị tuyển đủ quân số cho trung đội. Buổi trưa ngày thứ ba tại Sở Liên Lạc, anh bước vào khu nhà ăn đến quầy lấy thức ăn bỏ vào khay và quay tìm chỗ ngồi. Phòng lớn phía ngoài chật cứng, chỉ còn chỗ trống trong phòng nhỏ được ngăn bởi bức tường cao ngang thắt lưng có bảng hiệu chữ O gắn trước cửa (khu vực dành riêng cho sĩ quan) ở xa hướng tay phải. Với khay thức ăn trên tay, anh điềm nhiên bước đến chỗ ngồi nơi góc tường. Lúc anh vừa bắt đầu ăn thì có anh nhà bếp người Mỹ da ngăm, khá to con tiến đến bàn anh.

- You cannot sit in this room. (Anh không được ngồi trong phòng này.)
- Let me finish my lunch, please. (Xin để tôi ăn trưa xong cái đã.)
Anh chàng Mỹ xem chừng giận dữ, quát lên như ra lệnh:
- No. Stand up! Get out of the room now or I'll punch you out of here. (Không được. Đứng dậy ngay! Bước ra khỏi phòng ngay bằng không tao thụi cho mày ra khỏi đây.)

Bất cần. Ông bà ta có câu “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. Anh thản nhiên vừa ngồi ăn vừa nhớ lại lời của mấy tay Nùng dặn nhau chỉ mới cách đây một, hai hôm: “Đi lính Lôi Hổ mà không ba gai là bị đuổi về không được nhận đâu!”
Thình lình anh nhà bếp phóng tới chộp tay trái anh định lôi tuột ra khỏi phòng. Với phản ứng tự nhiên, anh đưa tay lên đỡ gạt bằng cách chặt ngay đúng huyệt nơi cườm tay của hắn ta cùng lúc tiện thể đứng dậy thả cùi chỏ tay còn lại ngay ngực hắn trong chớp mắt. Đòn trúng nhẹ nhàng nhưng hắn đã phải loạng choạng thối lui. Anh bình thản nói với hắn:
- You don't have the right to do that. I must protect myself. (Anh không được quyền làm thế. Tôi buộc phải tự vệ thôi.)
Tay phải anh vói cái ghế sắt để thủ thân (thật không uổng phí công lao của bố mẹ cho đi học võ thuật từ lúc chín tuổi để cường tráng thân thể), lúc này có anh Mỹ khác ngồi cách hai bàn đứng dậy nói to như hét:

- Take it easy, you guys! (Mọi chuyện ổn thôi, các bạn!)
Rồi anh ta quay sang anh nhà bếp:
- Let me take care of it! (Để tôi lo!)
Anh nhà bếp xụi lơ, bỏ đi.

Anh chàng Mỹ mới này khoảng trên dưới 30 tuổi, trông sáng sủa, cao ráo làm sao! Anh ta bưng khay thức ăn của mình bước đến bàn anh ngồi, nói năng lịch sự:

- May I sit here? (Tôi ngồi đây được chứ?)
- Certainly! (Đương nhiên rồi!)
- Are you a fresh soldier? I havent seen you before. (Lính mới hả? Hồi nào đến giờ tôi chưa thấy anh.)

Không để anh kịp trả lời, anh chàng Mỹ điển trai tiếp tục nói, “Thôi chúng ta nói bằng tiếng Việt đi. Anh có biết đây là phòng ăn của sĩ quan không? Anh muốn làm sĩ quan hả? Tôi là Trung úy Lực Lượng Đặc Biệt chính gốc, chịu trách nhiệm tuyển mộ và huấn luyện trung đội tân binh này, nhưng chưa tìm ra thông ngôn. Tôi nghe anh đối đáp với anh John nhà bếp khá sành sõi tiếng Mỹ, nên có thể nào cho tôi nói chuyện bây giờ với anh như một cuộc phỏng vấn không?”

Thế là cuộc phỏng vấn bất ngờ diễn ra. Đoàn Văn Khánh quê ở Chương Nghĩa Đoài, gần Bùi Chu, Phát Diệm, di cư vào Nam cùng với gia đình năm 1954. Khánh được gia đình cho theo học Pháp ngữ cấp tiểu học. Lên đến trung học thì bố Khánh, một người thức thời, khuyên anh nên chọn theo học Anh ngữ. Khánh đã có thể hưởng một cuộc sống an phận: anh là con trai độc nhất trong gia đình, có giấy chứng nhận sắc tộc thiểu số nên anh được miễn dịch. Tuy nhiên, bản chất khí khái không cho phép Khánh chấp nhận như vậy. Anh muốn làm nhiệm vụ người trai thời chiến bằng cách xếp bút nghiên gia nhập Biệt Kích hầu dễ dàng thoả chí tang bồng.
Cuộc đàm thoại thay cho phỏng vấn kết thúc với biên bản ký nhận hoán chuyển tình trạng hồ sơ của Khánh từ làm lính Biệt Kích chỉ mới ba ngày thành làm thông ngôn. Khánh bắt đầu làm quen với bộ quân phục đồ beo nút đồng, mũ bành to vè, và khẩu Revolvo (Ru-lô) nòng dài và giây đạn (có nhét đạn chung quanh) đeo lủng lẳng. Trông ra dáng một Cowboy oai hùng.
Tôi nối tiếp cuộc nói chuyện bằng câu hỏi:
- Cháu nghe nói tân binh Biệt Kích Lôi Hổ được đưa đến huấn luyện tại các căn cứ tiền đồn hoặc kế bên các trại Lực Lượng Đặc Biệt dọc theo hành lang biên giới như Khâm Đức, A-Shau, hay Khe Sanh, phải không ạ?

- Đúng đấy, nhưng Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành là nơi trắc nghiệm, tuyển chọn lại và cấp giấy chứng nhận mỗi khóa huấn luyện cho Biệt Kích Lôi Hổ. Đôi khi Biệt Kích cũng được gởi đến các quân trường khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà để có giấy tờ phù hợp chuyên ngành. Những căn cứ huấn luyện này tùy thuộc vào mục tiêu của các nhiệm vụ để cung cấp huấn luyện cần thiết: Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù thì cấp bằng dù, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ chuyên huấn luyện về chiến thuật hành quân biệt động như rừng núi sình lầy hay hành quân viễn thám, Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt tại Đồng Bà Thìn phụ trách huấn luyện dây tử thần, bắn tỉa, vân vân.
- Biệt Kích Lôi Hổ cũng nhận huấn luyện căn bản tương tự như bao binh chủng khác, phải vậy không chú?

- Đại loại, huấn luyện căn bản của Biệt Kích Lôi Hổ bao gồm huấn luyện vũ khí đủ loại, di hành, cứu thương, mìn bẫy, mưu sinh, thoát hiểm, phản ứng cấp thời, bắt tù binh, võ thuật cho cận chiến, thậm chí đôi lúc có võ sư tiếng tăm ngoại quốc được thuê về dạy.
Xin vinh danh sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam.
Cowboy cho biết thêm rằng Biệt Kích Lôi Hổ còn được huấn luyện tự do theo sở thích và khả năng để trở thành điêu luyện bằng cách học hỏi từ bậc đàn anh. Tốp tân binh nghe đi tập bắn thì khoái chí, mang một lần bốn thùng đạn, đến bãi bắn có đàn anh hướng dẫn, chỉ cách tháo, ráp súng tại chỗ và tập bắn vào bia bằng các-tông; dùng đại liên và súng lục bắn cho hết bốn thùng đạn, bắn tự do thoải mái chứ không theo bài bản như ở các quân trường: “Một viên đạn nạp. Nhắm từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi. Nín thở. Bóp cò.” Tối về tai người nào người nấy rát bùng, cấp chỉ huy quát gọi cũng chẳng nghe. Vài hôm sau được gọi đi tập bắn tiếp, tân binh rút kinh nghiệm chỉ mang một hoặc nửa thùng đạn, che bít hai tai, bắn kiểu tự do như trong xi-nê, tập đi tập lại cho đến khi bắn không cần phải nhắm mà vẫn trúng đích. Sau vài lần huấn luyện di hành, nếu cảm thấy nặng thì đổi súng khác nhẹ hơn, và cuối cùng đối với bất cứ loại súng gì (của địch lẫn của ta) Biệt Kích đều sử dụng rành rẽ.

Càng nghe càng hiếu kỳ, tôi hỏi thêm:
- Thế huấn luyện Biệt Kích Lôi Hổ có khác biệt cụ thể nào so với các binh chủng khác, thưa chú?
- Sự khác biệt ở chỗ là Biệt Kích Lôi Hổ được huấn luyện hàng ngày hàng giờ mà chính bản thân họ cũng không ý thức được là đang được huấn luyện. Qua sinh hoạt đời thường, họ được các toán trưởng Mỹ ngầm quan sát để hướng dẫn những bài học tình báo, thử thách lòng dũng cảm, sự nhạy bén khôn ngoan, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm biết bảo tồn danh dự và hy sinh cho chiến hữu, vân vân.
- Lý thú lắm, chú ạ!
- Thêm một khác biệt nữa là Biệt Kích Lôi Hổ không được huấn luyện quân cách như diễn hành hay chào kính bởi vì càng che dấu tông tích nơi công cộng thì càng dễ dàng thi hành phận sự.

- Quả là Biệt Kích Lôi Hổ phải trải qua bao thực tế để khả năng và thành tích chiến đấu được xem xét, trắc nghiệm và đánh giá kỹ lưỡng; do đó để được công nhận là một Biệt Kích Lôi Hổ xuất sắc trong toán thám sát ắt là một thử thách lớn.
- Không sai. Đã có biết bao tay giang hồ ngang tàng gia nhập Biệt Kích Lôi Hổ mà cũng phải đào ngũ ngay từ thời gian đầu huấn luyện. Cháu biết đấy, an toàn sinh mạng luôn là hàng đầu ở bất cứ tình huống nào cho nên mỗi lần nhận nhiệm vụ, Biệt Kích Lôi Hổ đều phải thực tập đội hình, vũ khí tác xạ, điều nghiên địa thế, khí hậu, phương tiện và vị trí di chuyển, phân công, cứu thương, vân vân. Các toán viên phải bảo đảm phối hợp hành động ăn ý dù chỉ thể hiện qua ánh mắt hoặc bằng cử chỉ để hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp.

Chuyển sang khía cạnh quyền lợi của Biệt Kích Lôi Hổ, tôi thẳng thắn hỏi ông:
- Phía Mỹ đãi ngộ Biệt Kích Lôi Hổ ra sao, thưa chú?
- Tùy theo toán trưởng Mỹ đề nghị dựa vào thành tích đạt được mà phía Mỹ tăng lương. Thỉnh thoảng có tháng Biệt Kích Lôi Hổ được lãnh lương hai lần, cũng có tháng lên đến ba lần. Chuyện khó tin nhưng vẫn xẩy đến với Biệt Kích Lôi Hổ của các toán thám sát. Bởi thế ở Huế có câu hò rằng “ơ...ơ... khi mô sông Hương cạn nước ơ...ơ... thì Lôi Hổ mới hết tiền”.
Tôi hỏi Cowboy về chuyện thăng cấp của riêng ông và được biết sau vài chuyến di hành huấn luyện vào sâu mật khu bên kia biên giới, cũng có những lần đụng địch quân, Cowboy được thăng cấp bậc là Trung úy Biệt Kích Lôi Hổ. Trung đội trưởng long trọng gắn hai baza màu đỏ bên hai cầu vai của Cowboy trước hàng quân.
Cowboy kể thêm rằng những lần đi công tác hay về phép Biệt Kích Lôi Hổ không phải qua bất cứ hệ thống kiểm soát nào của phi trường và cũng không phải chờ đợi. Xe của Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát sơn màu đen không có bảng số, chỉ treo một cái thẻ bằng cỡ căn cước, ra vào cổng phi trường trình cho Quân Cảnh xem là được ngoắc tay cho đi qua.

Tôi nghe đến đây thì buột miệng:
- Kể thì oai quá!

- Thật ra Biệt Kích Lôi Hổ như tụi chú rất giản dị và bình thường, tương tự như bao người lính khác của các binh chủng oai hùng thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; hoặc e là không bằng họ nữa là khác.
Vẫn lời lẽ khiêm tốn, Cowboy không quên nhấn mạnh rằng những chiến tích mà các toán thám sát Lôi Hổ lập nên còn được sự yểm trợ của những đôi cánh thép trong các chuyến bay thả biệt kích dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh của Phi Đoàn Thần Phong 219. Phi đoàn 219, hậu thân của biệt đoàn 83, tăng phái cho Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát, được phi công của hai phía Việt-Mỹ và các Biệt Kích biết dưới danh hiệu “Kingbee”. Mặc dù không trú đóng cùng căn cứ với Biệt Kích nhưng mức độ hiểm nguy của nhiệm vụ thả và bốc toán của phi đoàn 219 không thua gì nỗi chết rình rập bên Biệt Kích Lôi Hổ. Các phi công Thần Phong gan dạ và tài tình, bất kể thời tiết xấu hay đạn pháo đối phương bủa vây vẫn bằng mọi cách đáp xuống để đem Biệt Kích và xác chiến hữu ra khỏi vòng vây địch.

Ông đồng thời nhắc đến một nhân vật anh hùng trong Phi Đoàn Thần Phong 219 cũng được mệnh danh là “Cowboy”.
- Thế còn chú thì sao? Cháu được biết một nhiệm vụ mà chú thi hành đã có mã “Cowboy” để liên lạc truyền tin. Nhưng từ lúc nào và tại sao biệt danh “Cowboy” gắn liền với tên tuổi của chú trong sự ngưỡng mộ vượt bực của Biệt Kích Mỹ?

Ông cười vang:
- Do từ một câu chuyện được nhắc rồi nhớ chứ thực sự bản thân chú không nhớ.
Đó là sau lần đụng địch bị thương phải cưa bỏ chân và không thể tác chiến được nữa, Cowboy được điều phái đến phòng truyền tin.
Một buổi sáng mở cửa phòng làm việc, Cowboy Khánh Đoàn bất ngờ thấy trong phòng lố nhố các trưởng ban, một số sĩ quan, và một người Mỹ ăn vận dân sự. Một trưởng ban giới thiệu Cowboy với người Mỹ này:

- Đây là người mà ông đã muốn gặp từ tối qua đến giờ.
Người Mỹ quay qua chăm chú nhìn Cowboy, hỏi một loạt “Mày là Cowboy?”, “Mày trú đóng tại Tiền Doanh 1?”, “Mày thuộc toán thám sát ALABAMA?”, “Mày giữ vị trí 02?”.

Cowboy đi từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Mỗi câu hỏi được đáp với một cái gật đầu.
- Mày có biết tao là ai không?
Lần này câu trả lời là cái lắc đầu kèm theo cái nhíu mày.
Người Mỹ tiến sát gần, nhìn sâu vào mắt Cowboy:
- Mày đúng là Cowboy rồi.
- Thì chớ sao nữa!
- Ô-kê, nếu mày thực sự là Cowboy thì tao sa thải mày ngay từ lúc này.
Đến lúc đó thì Cowboy nổi nóng. Bản chất ngang tàng trỗi dậy, Cowboy lớn tiếng:
- Tao cóc cần biết mày là ai hết. Tao chỉ biết mày đuổi việc tao là hết sức phi lý vì tao đang cần tiền nuôi vợ con. Cho tao biết lý do sa thải đi.
- Rõ ràng mày không biết hoặc không nhớ tao là ai hết sao?
- Tao đã nói tao chẳng nhớ mày là thằng quái nào rồi mà.
- Tao đã cố tình nhắc đến Tiền Doanh 1, rồi toán thám sát ALABAMA, rồi vị trí 02, vân vân, thế mà mày vẫn không thèm nhận ra tao nữa ư?
Giọng nói lộ vẻ thất vọng rõ rệt, rồi bất ngờ người Mỹ dang hai tay ôm ghì lấy Cowboy thiếu điều nghẹt thở, đoạn quay qua nói với mọi người:
- Cái cấp bậc trung tá của tao ngày hôm nay là của nó. Cái chức vụ Chỉ huy trưởng Cố vấn Quân Đoàn 1 sắp tới của tao cũng là của nó.
Cowboy đứng như trời trồng, ngẩn ngơ.

Người Mỹ ăn vận dân sự chính là trung tá Granham. Cùng ngày, tại buổi lễ nhận chức vụ mới, vị trung tá kể lại câu chuyện trước sự hiện diện của các chiến hữu tham dự.
“Ngày đó, trung tá Granham còn là đại úy, nhận nhiệm vụ truyền tin nhập với toán Cowboy. Xảy ra đụng địch, phía đối phương quăng lựu đạn chày. Máu toé đầy mặt viên đại úy khiến hắn tối tăm mặt mũi không mở mắt được, giãy giụa, thét la đau đớn.
Cowboy lúc đó đang ẩn nấp sát bên cạnh viên đại úy, cảm thấy bất ổn, không còn giải pháp nào khác hơn, chỉ còn cách chĩa họng súng ngang mang tai hắn ta, rít khẽ:

- Mày không im miệng là tao cho mày đi luôn.
- Tao trúng rồi. Làm sao đây?
- Để tao tính.
Từng được huấn luyện cứu thương, Cowboy mở vội ba-lô sơ cứu tại chỗ: băng bó tạm, tiêm ngay morphin để viên đại úy bớt rên rỉ. Viên đại úy vẫn không thể mở mắt được nên Cowboy quyết định chớp nhoáng: lệnh cho toán ở lại cự địch và đồng thời bắn yểm trợ để anh cõng viên đại úy chạy đến nơi trực thăng cứu thương sẽ đáp. Với khuôn mặt nhòe nhoẹt máu và bệt bùn đất, viên đại úy nằm đó nghe rõ mồn một chỉ thị của Cowboy, gượng bò lên bám vai anh, trút bỏ ba-lô cá nhân để giảm trọng lượng, gắng nương theo để Cowboy cõng chạy men theo sườn đồi.
Những tưởng rằng chiến tranh khiến con người ta trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng kỳ thực chính chiến tranh tạo ra lắm thứ hết sức đời thường. Cái đời thường ở đây chính là tình chiến hữu sống chết có nhau.

Hai tiếng đồng hồ có dư, tính từ lúc Cowboy cõng chạy người chiến hữu bị thương trên lưng và miệng liên tục thốt ra lời khích lệ trong giọng nói hổn hển, ngắt quãng: “Mày ráng chút nữa. Đừng lo. Có tao bên mày đây.” Khoảng cách đến bãi đáp không quá xa nhưng sức nặng quá tải khiến Cowboy phải nghiến răng, thở hồng hộc lên đồi xuống dốc. Vùng biên giới Lào tựa chảo đang rang cát. Nóng thiêu. Khô bỏng. Mồ hôi tuôn ròng mờ mắt. Hai thân người đổ chập thành một bóng dài trong một đôi chân đang rảo chạy. Đôi chân vững chãi ấy có vài lần chậm lại để liên lạc truyền tin hay quan sát tình hình, phán đoán, và quyết định hành động ứng biến. Chỉ khi nghe tiếng cánh quạt của trực thăng nặng nề vang dội trên đầu thì Cowboy biết mình đã tròn trách nhiệm với chiến hữu.
Biệt Kích Lôi Hổ đa số là dân tứ xứ ở Việt Nam, trai tráng độc thân, vào sinh ra tử cùng nhau biết bao lần, lúc bình thường cũng như lúc lâm nguy họ đều chia sẻ hy sinh cho nhau. Họ không có gì để mất mát hay đổi chác nên cũng chẳng cần bon chen, so đo tính toán. Họ không thích bị ai ăn hiếp và quan niệm cái quý giá nhất là mạng sống con người. Dẫu chỉ còn một chiến hữu sống sót thì cũng phải bằng mọi giá đưa người chiến hữu ấy trở về cho bằng được. Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, tình huynh đệ chi binh ngấm vào xương vào máu họ rồi. Cowboy cho rằng điều mình làm không là ngoại lệ.

Thành thử ra, sau khi viên đại úy bị thương được tải lên trực thăng an toàn, Cowboy quay trở lại nhập toán cùng anh em tiếp tục thi hành nhiệm vụ. Cowboy quên phắt câu chuyện.
Ngược lại, những giờ phút sống chết bên nhau thấm đẫm tình chiến hữu lại không dễ phai mờ trong tâm trí của viên đại úy ngày đó tức viên trung tá khi gặp lại Cowboy. Lời kết ông gửi đến các chiến hữu đang lắng nghe câu chuyện là: “Tôi tuy là người Mỹ nhưng rất ngưỡng mộ Biệt Kích Việt. Họ liều lĩnh, bất khuất, và nhất là không bỏ rơi chiến hữu. Cowboy lúc đó đã có thể bỏ rơi tôi vì tôi rên la làm cho đối phương dễ truy kích và có thể bắn chết anh ấy nhưng Cowboy đã không màng đến mạng sống của mình mà còn tìm cách an ủi cho tôi giảm đau đớn. Từ trước đến nay tôi chưa phục ai mà chỉ phục Cowboy. Một Cowboy thực sự.”

Lần “sa thải” đó đã cất nhắc Cowboy lên chức vụ đại đội trưởng Đại đội An ninh Cố vấn Quân Đoàn 1.
Các lời khâm phục từ Biệt Kích Mỹ được miệng truyền miệng nhanh chóng. Thêm nhiều câu chuyện được kể về những lần đụng địch khác mà Cowboy cùng vào sinh ra tử với anh em và sự ứng biến tài tình của Cowboy đã cứu nguy cho cả toán. Biệt danh “Cowboy” là một dấu ấn vinh dự trong cuộc đời cầm súng của ông.
Nhân khi tôi nhắc hỏi về chuyện cái chân bị cưa bỏ sau lần đụng địch, Cowboy bồi hồi:
- Cháu có biết không, sở dĩ chú nhớ quá rõ ngày 19 tháng 8 năm 1971 vì đó là ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trong bài diễn văn của ông rằng “Ai đứng trên giòng sông Tchepone (Lào) thì người đó thắng cuộc.” Điều trùng hợp là ngày đó toán thám sát của chú đang ở trên giòng sông Tchepone. Chú bị thương ở chân và được trực thăng tải về trị thương tại Bệnh viện 95 của Mỹ ở Đà Nẵng. Không may là cái hố mà anh em kéo chú ra khỏi là một hố bom nên chân chú bị nhiễm trùng gây sốt cao. Các bác sĩ hội chẩn và báo cho chú biết phải cưa khúc chân đó bằng không sẽ bị hoại tử mà chết.

- Xem ra chú không còn lựa chọn nào khác ngoài giải pháp cưa bỏ chân?
- Không phải vậy cháu ạ. Cháu nghĩ xem, chú sinh ra để chiến đấu mà bây giờ cắt bỏ chân thì chi bằng để chú chết sướng hơn.
Ông trầm ngâm giây lát và nói tiếp:
- Cháu biết mà, bác sĩ Mỹ chỉ thực hiện ca mổ với sự đồng ý của bệnh nhân, cụ thể là ký vào giấy tờ hoặc có nhân chứng. Y sĩ đoàn thấy xem ra khó thuyết phục để chú đồng ý cưa bỏ chân nên họ ngầm vận động các toán Biệt Kích Mỹ-Việt kéo đông đến bệnh viện vòng trong vòng ngoài nhất mực khuyên chú cưa bỏ chân để anh em còn thấy mặt.

Rồi ông chùng giọng:
- Hỏi cháu rằng chú còn biết nói gì nữa? Anh em sống chết hết lòng với nhau là vậy. Thời gian trị thương tưởng nhanh nhưng hóa ra lâu quá, mãi đến tháng tư năm sau chú mới được xuất viện. Chẳng phải vì bác sĩ Mỹ không giỏi đâu, ngược lại đằng khác, nhưng là do chú: đang ngồi xe lăn mà thấy anh em đến thăm là chú đứng bật dậy đi hiên ngang về phía họ định tay bắt mặt mừng nhưng quên rằng mình đã cụt chân. Nào phải một lần, ít nhất ba lần như thế nên đầu xương rớt ra, phải làm lại...

Ký ức về thời cầm súng hiện hữu trong tim, trong óc Cowboy mỗi ngày, kể bao lâu mới hết!
Cách đây hơn 5 năm, Cowboy được vinh danh là hội viên danh dự của Hiệp Hội Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ bao gồm các hội viên từ các cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai, Triều Tiên, Việt Nam, Grenada, Somalia, vùng Balkans, Afghanistan, Iraq, vân vân. Dịp đó, một người Mỹ ăn vận dân sự sải bước đến vỗ vai thân mật hỏi Cowboy “Mày nhận ra tao không hả Cowboy? Tụi mình cùng là toán viên tại Tiền Doanh 1 đây mà.” Người Mỹ dân sự chính là cựu thiếu tướng Eldon A. Bargewell. Thấy Cowboy gục gặc đầu, ông tướng cười sảng khoái “Mày chịu nhận tao rồi vậy tụi mình chụp một tấm ảnh làm kỷ niệm đi, Cowboy.”

Nhân thể, tôi liên tưởng đến một vị tướng khác, chuẩn tướng Terry Tucker, thời còn tại nhiệm với chức vụ chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Nhiệm Hỗn Hợp (Joint Task Force Full Accounting – JTFFA) vào cuối thập niên 90, đã hết lời ca ngợi khi bất ngờ biết được Cowboy tuy đã mất một chân mà vẫn tình nguyện sang Lào để hỗ trợ đội công tác tìm kiếm hài cốt của các biệt kích Mỹ trong nhiều năm liền. Nghe tôi nhắc nhớ, Cowboy chia sẻ với tôi rằng ông chỉ đơn thuần muốn đem đến một sự an ủi cho hương hồn của các Biệt Kích Mỹ-Việt, các chiến sĩ Thần Phong còn bơ vơ trong rừng núi bạt ngàn của xứ người, chưa được trở về đất mẹ.
Góp công sức tìm kiếm chiến hữu mất tích đã đành, mà đối với chiến hữu đã hy sinh, Cowboy cũng đậm tình. Tôi biết điều này qua lời kể của Martha Cryan, em gái của Biệt Kích Mỹ Kenneth Cryan. Khi được báo tin về cái chết của anh trai, Martha quá đỗi buồn đau, chỉ ít lâu sau cùng gia đình chuyển sang Châu Âu sinh sống trong suốt 24 năm. Khi trở lại Mỹ, điều đầu tiên cô làm là đến thăm anh trai Kenneth tại Nghĩa Trang Quốc Gia Golden Gate ở Bruno, California, đúng vào Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Bất chợt thấy một cựu chiến binh Châu Á trong quân phục và bê-rê xanh đang quì trước mộ của anh trai mình, cô lặng người xúc động. Hỏi ra mới biết rằng Cowboy là chiến hữu của Kenneth. Nhiều năm trước đó khi thông tin về những hoạt động của Biệt Kích Mỹ-Việt ở lãnh thổ Lào chưa được bạch hóa, Martha nào biết gì hơn ngoài sự thông báo về cái chết của Kenneth. Giờ đây cô được nhận niềm an ủi lớn lao là anh trai cô đã từng có chiến hữu đồng cam cộng khổ nhớ đến mình và bất kể dù còn sống hay đã chết, tình đồng đội của họ bất diệt.

Đối với các chiến hữu còn sống vất vưởng bên quê nhà, Cowboy còn trăn trở hơn.
Biệt Kích Lôi Hổ được tuyển mộ để thế thân cho lính Mỹ thành thử ra không có số quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ có mã hoặc ẩn số do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát. Tiếc thay, các toán thám báo Biệt Kích Lôi Hổ trên danh nghĩa chỉ được liệt kê là Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam mà không được xem là một đơn vị tác chiến.

Nếu hoàn tất nhiệm vụ, thì sống. Dẫu thương tích đầy mình hoặc thậm chí hy sinh tính mạng, thì không huy chương nào được trao tặng hoặc truy tặng. Bị lộ, bị bắt thì họ không được hưởng chút quyền lợi nào từ qui chế tù binh Genèva; ngay cả các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết cách nào để can thiệp.
Xem ra, một khi người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến không qui ước thì phải chấp nhận qui luật của cuộc chơi. Một cuộc chơi quyết liệt và tàn nhẫn. Dù sống hay chết thì tên của họ cũng đều nằm trong bóng tối.

Cho đến thời điểm hiện tại, Biệt Kích Lôi Hổ vẫn chưa được công nhận thuộc về một quân đội nào, một chính phủ nào. Công nhận tính chính danh của Biệt Kích Lôi Hổ đồng nghĩa với trách nhiệm của chính phủ sở tại là thực hiện quyền lợi cựu chiến binh cho họ.
- Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, danh dự được công nhận vẫn là điều quan trọng hơn quyền lợi.
Cowboy thốt lời khẳng khái để rồi lời tâm sự tiếp sau nghe chút gì chua xót:

- Từ ngày đặt chân sang Mỹ, chú đã cùng với anh em phối hợp thu thập chứng cứ, lập hồ sơ để chính phủ sở tại cứu xét trường hợp Biệt Kích Lôi Hổ. Đồng thời, các chiến hữu Biệt Kích Mỹ cũng nỗ lực không ngừng nghỉ để vận động chính giới lưu tâm. Đến giờ này vẫn chưa có được số hồ sơ tại tòa án thì còn nói gì được đây? Thú thực đã có những khi chú rất chán nản.

Chúng tôi ngậm ngùi trao đổi nhau tiếng thở dài tháng tư.
- Xin chú Cowboy đừng tuyệt vọng!
Yên lặng từ đầu giây điện thoại bên kia.
- Chú Cowboy ơi, đừng bỏ cuộc!

Vẫn yên lặng. Tôi ước ao có đôi đũa thần biến ước mơ của Cowboy thành hiện thực hơn là gắng thốt ra những lời an ủi vụng về của mình.

Giây lâu sau Cowboy cất lời khẽ đủ tôi nghe:
- Không đâu! Chú sẽ không tuyệt vọng. Chú sẽ không bỏ cuộc. Anh em còn cần chú.
- Bravo chú Cowboy! Hội ngộ Biệt Kích Mỹ-Việt năm nay, cháu sẽ thu xếp đến sớm trước một ngày để gặp mặt chú.
Kể cũng lạ! Chú cháu tôi ở cách nhau chưa đầy hai tiếng đồng hồ lái xe, vậy mà không chịu gặp mặt ngay.

Phải đợi thêm một thời gian nữa sẽ đáp máy bay đến một nơi họp mặt để chung tay chung sức và để cùng chia sẻ về một hy vọng một ngày trong tương lai Biệt Kích Lôi Hổ gốc Việt sẽ được công nhận là cựu chiến binh Mỹ, những người đã từng cống hiến và hy sinh trong công cuộc bảo vệ chính nghĩa.

Vậy mới là duyên ngộ. Phải vậy không chú Cowboy?
*
Chú thích của người viết: 02 là chức vụ thông ngôn trong các toán thám sát của Biệt Kích Lôi Hổ.

Orchid Thanh Lê

Wednesday, May 13, 2026

Tin buồn Nha Kỹ Thuật - Lôi Hổ Đoàn Khánh đã tung cánh dù bay xa 5/13/2026 San Jose California - Thành Kính Phân Ưu cùng gia đình tang quyến


Đòan Khánh ngồi giữa giơ tay chử "V" for Victory
Huyền thoại MACV-SOG, Trưởng Toán Thám Sát kiêm Thông Dịch Viên Đoàn Khánh “Cowboy”, hưởng thọ 78 tuổi, đã qua đời hôm nay tại San Jose, theo thông tin từ gia đình.
Đời lính gian khổ vào sinh ra tử là chuyện bình thường, đặc biệt là lính Lôi Hổ, mỗi lần nhân công tác là chấp nhận tính mạng mình, còn sống sót đến hôm nay thì thật là quá may mắn rồi, đó là lời Quang, tâm sự, ôn lại đời sống quân ngũ thật là dài dòng, kể làm sao hết được, có những kỷ niệm muốn quên đi, nhưng thật khó.
Trước tết Mậu Thân năm 68, 4 toán, Idaho, Dakota, Alabama, New Jersey từ Phú Bài nhận lệnh vào căn cứ Khe Sanh để mở đường máu cho Bộ Chỉ Huy từ Khe Sanh đến Khe Sầu nếu Khe Sanh thất thủ như Điện Biên Phủ (thuyết trình hành quân cho biết), ngày đầu tiên đến, Tây đưa lương khô thay thế cho thức ăn tươi nóng, tưởng mình dân từ FOB#1 là ngon lành lắm, không thèm ăn lương khô, mượn cớ là sẽ bị táo bón, Tây trả lời tỉnh bơ “we don’t have hot food” và rồi bỏ đi, chuyện lạ gì sảy ra?, thông thường không bao giờ sảy ra như vậy, dù là đi NKP hoặc Utapao Thái Lan Tây cũng phải mua thức ăn thượng hạng ở các nhà hàng về cho toán, chưa nói là toán có dịp “sai Tây trả thù dân tộc”, việc gì xẩy ra đây? Khoảng 4-5 giờ chiều tất cả đều đói bụng, gom cây lại đốt lửa bên hông nhà làm món Cơm Chiên Thập Cẩm Lôi Hổ lót bụng trước khi đi ngủ, ngồi cạnh đống lửa, vừa trộn mọi thứ trong gói gạo sấy, vừa nấu nươc sôi, cùng vừa tán dóc… Định Lèo la lên Quang, Khánh nằm xuống… tiện chân hắn đạp hai thằng lăn xuống giao thông hào “được đào sẵn hai bên hông nhà”.. trái đạn cối (81 hay 82) nổ cạnh đống lửa, nhìn Định Lèo thấy trên miệng hắn đang ngậm Cà Tha, còi báo động hú liên hồi khắp nơi, thì ra cuộc chiến tại thung lũng Khe Sanh bắt đầu, và rồi đạn cối của VC rơi rải rác khắp nơi, ước chừng trên dưới 500, các toán viên từ Phú Bài đều an toàn và di chuyển ra giao thông hào, khoảng 8 giờ tối kho đạn phía TQLC Mỹ bắt đầu trúng pháo, nổ liên tiếp qua hết ngày hôm sau, thế là không ai bảo ai, tự đào hầm trú ẩn kiên cố, bao cát chồng nhau lên tới cả hơn chục chung quanh TOC. Hằng ngày sáng, trưa, chiều, tối, khuya đều ăn pháo nặng, nhẹ đủ cỡ đều có khoảng trên dưới 500 quả. TQLC Mỹ rút gọn về chung quanh Phi Trường, Quận Khe Sanh thất thủ, đêm đêm trong hầm trú ẩn đều được đấm lưng miễn phí do B-52 trải thảm, dù vậy mà ở ngoài vòng rào của trại cũng có Giao Thông Hào của VC đào chung quanh. Đêm Lang Vei (cách Khe Sanh khoảng 5-6 Km. tầm nhin khá xa bởi trống) bị tấn công, 2 toán Alabama và Dakota trang bị AK, nón cối, dép râu, tay xách thêm bao cát, đóng vai thanh lý, toán đầu trại, toán cuối trại, gỡ mìn hàng rào phòng thủ, bò ra khỏi trại (tránh lính địa phương nội tuyến trong trại) trong màn đêm tối, âm thầm tìm đường tiến đến trợ giúp cho Lang Vei, Alabama sẽ tiến ra hướng Quận Khe Sanh bọc theo suối tiến đến đuôi Làng Vei, Dakota tiến về hướng Hickory (đồi 882) vòng trở lại tiến đến đầu Lang Vei, dọc lộ trình Alabama đều biết và nghe bọn chúng làm Heo, Gà ăn mừng, thỉnh thoảng trong căn cứ Khe Sanh bắn Hỏa Châu, nên thấy rõ bọn chúng, có cả trai cả gái, la, gọi nhau chí chóe tứ phía, đêm đó Lang Vei thất thủ, Sáng hôm sau Alabama tiến chưa được nửa đường, ban ngày địch không hoạt động nhiều như ban đêm vì sợ máy bay, phe ta tìm nơi an toàn lẩn trốn, di chuyển rất chậm tránh địch phát hiện (có lẽ VC không hay biết tin tức là có các toán hoạt động), lúc này toán nhận lệnh phải tiến đến Lang Vei lúc 0600h sáng hôm sau trợ, giúp cứu khoảng 15 ông Tây còn kẹt tại hầm bí mật trong căn cứ Lang Vei, đúng giờ ấn định, toán đã đến địa địa điểm bìa rừng, có thể quan sát thấy những căn nhà tôn+lá (theo bản đồ khu trại gia binh), trống rỗng, ớn lạnh giống làng ma quái trong phim ảnh, toán Dakota cũng đã có mặt ở đầu căn cứ được biết qua truyền tin.
Khoảng 0800h sáng Trực Thăng gồm nhiều Cobra, Slick, Gun ship bắn dọa, hộ tống để thả 2 toán Idaho, New jersey vào giữa Lang Vei giải cứu những ông Tây, 2 toán xâm nhập an toàn, Trực Thăng bay ra (quay về), Đột nhiên từ bìa rừng pháo, và bắn đủ loại súng vào 2 toán, cũng may và toán cũng dầy kinh nghiệm, đều an toàn dưới giao thông hào, trực thăng vòng trở lại đáp lễ, VC câm họng toàn bộ, ( thì ra sau khi chiếm được Lang vei  VC rút ra bìa rừng bày binh bố trận) cùng lúc này cùng xuất hiện vài chiếc CH-53 đáp thả toán (toàn bộ Tây), rồi bay lên cao, 2 toán Dakota và Alabama nhận lệnh tiến vào Lang Vei, toán di chuyển (đa phần bằng giao thông hào có sẵn) Alabama bị tấn công tới tấp, những lúc chạy trốn vào Lô Cốt đều bị tự động đẩy lui ra do HƠI người chết thê thảm (nửa người cháy đen, tay, chân, đầu, phèo phổi văng tứ tung trong Lô Cốt, thật là rung rợn, có lẽ bị B40 bắn, thịt người rữa ra, nửa sống nửa chín), trong lúc Alabama và Dakota bi tấn công, những Trực Thăng (CH53) hạ mình xuống bốc toán Tây lên (có lẽ cũng kèm theo số Tây kẹt lại), Alabama có lệnh tấn công ra bìa rừng có Cobra và Gunship mở đường, lúc này thấy xuất hiện nhóm người khoảng 30 hay 40 người dân+lính, đa số đàn bà chạy đến hướng toán, họ từ từ chạy đến gần tới phía toán, lúc này tình hình lắng dụi, VC không dại lò đầu ra khi bao nhiêu Trực thăng võ trang quần trên đầu sẵn sàng nhả Rocket, tôi nghe Quang và Hùng nói “Anh Huấn, Anh Huấn”, Quang chì tay về hướng nhóm người tiến gần đến toán, trong lúc này cả toán phải chĩa súng để đề phòng bất trắc, tôi buột miệng hỏi Huấn nào? Tr/U Huấn đơn vị mình, Quang trả lời, tôi chưa từng biết và nghe Tr/U Huấn trước đó, tôi nhìn thấy anh nhỏ con, ốm yếu, tiều tụy, mặc chiếc áo field Jacket mỏng của nhà kho LH phát, gương mặt xương vẫn lộ vẻ cương nghí, thêm người khác anh em để ý nữa là người đàn bà mang bầu, bụng nhô ra hơi to mặc chiếc áo dệt mỏng, chỉ gài móc trên cổ màu đỏ, thật là đáng thương hại, anh em trong toán chỉ nhìn nhau, qua ánh mắt trao đổi đã quyết định bắt buộc phải làm gì cho họ rồi, tiếng Trực Thăng CH53 càng lúc càng gần đến triệt xuất toán, VC pháo kích, vài người thường dân bị thương, số còn lại chạy tản mác tìm chỗ ẩn nấp, Cobra xịt Rocket và hụ Đại Liên (VC khờ quá hoăc không biết chiến thuật triệt thoái của Trực Thăng) Tây toán trưởng lên tiếng “ready” chỉ 12 nhân viên toán, lệnh trên Trực Thăng, đáp xuống bãi Tây lo tìm chỗ nấp phòng thủ Quang, Hùng, Hạnh vừa đi lùi vừa bắn, anh Huấn và người đàn bà (không hiểu ai đưa áo Field Jacket cho chị mặc) bị đẩy ở giữa 3 toán viên, nghe toán bắn, Tây xạ thủ cũng bắn vào phía bìa rừng từ hai bên hông, không để ý kiểm soát con số người vào tàu, số dân nghe súng nổ đều tìm nơi ẩn nấp, toán vừa bắn phía bìa rừng vừa chạy vào máy bay đúng lúc chiếc CH53 nhấc rời mặt đất, 10 phút sau về đến căn cứ Khe Sanh an toàn, Anh Huấn và người phụ nử có bầu được Tây ở TOC đưa đi đâu không biết, Alabama và các toán quay trở lại Lô Cốt của mình và tiếp tục nhiệm vụ mình tại Khe Sanh, sau đó đươc nghe anh em nói “Anh Tr/U Huấn trú đóng ở Hickory (Radio Relay), đồi 882, di tản cùng với quân nhảy dù Lào xuống Lang Vei và rồi như vậy đó,
Ngày nay hai thằng LH bệnh như nhau, có lẽ va chạm những chất đôc thời chiến tranh VN, đứa ở VN không được phát hiện sớm để chữa trị đúng mức, thật đáng buồn cho bạn mình.
Đoàn Khánh 

Huyền thoại MACV-SOG, Trưởng Toán Thám Sát kiêm Thông Dịch Viên Khánh “Cowboy” Đòan, hưởng thọ 78 tuổi, đã qua đời hôm nay tại San Jose, theo thông tin từ gia đình.

Cowboy từng phục vụ cùng Lynne M. Black Jr. trong một trong những trận đánh lịch sử nhất của SOG tại Lào, khi Toán ST Alabama, ngày 5 tháng 10 năm 1968, giao chiến suốt một ngày với cả một sư đoàn Bắc Việt gồm 10.000 quân — và sống sót để kể lại câu chuyện. Một tháng sau, ông tiếp tục chỉ huy một phi vụ với Toán ST Virginia cùng Doug “The Frenchman” LeTourneau tại Lào.

Trong nhiều năm tham gia các phi vụ của SOG, ông nhiều lần bị thương nhưng chưa bao giờ bỏ cuộc.

Bức ảnh năm 1968 cho thấy “Cowboy” tại FOB 1, Phú Bài, đứng trước phòng toán ST Idaho, cùng Thông Dịch Viên Nguyễn Công Hiệp (giữa) và Trưởng Toán ST Idaho, Green Beret Robert J. Parks (quay lưng về phía máy ảnh).

Trong bức ảnh thứ hai, ông đứng cùng Jocko Willink và tác giả sau buổi thu hình Jocko Podcast năm 2020.

Bức ảnh thứ ba được chụp tại Đại Hội Hội Đặc Nhiệm (Special Operations Association) năm 2007, với Cowboy bên trái, cùng tôi và Hiệp.

Để biết thêm về Cowboy, xin xem Jocko Podcast #258 trên YouTube hoặc đọc Across The Fence.

John Meyer 

Tuesday, May 12, 2026

Lôi Hổ Nguyễn Xuân Tám đã tung cánh dù bay xa mong anh về nơi chốn bình yên nhất.

Hôm thứ Ba tuần rồi 5/5/2026 nhận tin buồn từ một C/H Sở Liên lạc thông báo Lôi Hổ Nguyễn Xuân Tám đã mất.
Sáng hôm nay 5/12/2026 nhận tin nhắn từ anh THT Võ Tấn Y và sẽ làm Phân Ưu của THNKT khi có cáo phó chính thức của gia đình, sau đó nhận tin nhắn (nội dung tin nhắn anh DHD). 
 
"NXTám vừa mất lúc 10:30 sáng (thứ Ba tuần rồi) vì cancer xương được phát hổi giữa tháng 3.  Thọ 85 tuổi.
Ước nguyện dặn gia đình là: KHÔNG thông báo, cáo phó, thăm viếng, tiễn đưa...  Hoả thiêu ngay trong vòng gia đình vợ con thôi".

Trước đây một số Niên Trưởng Nha Kỹ Thuật khi tạ thế, tang lễ chỉ có đơn thuần trong gia đình. 
- Đại Tá Trần Văn Hổ Giám Đốc Nha Kỹ Thuật
- Đại Tá Nguyễn Minh Tiến CHT/SLL/NKT
- Đại Tá Trần Văn Hai CHT/SCT
- Đại Tá Đoàn Văn Nu Giám Đốc Nha Kỹ Thuật
- Đại Tá Ngô Xuân Nghị CHT/SCT
- Th/Tá Lê Khôi Đoàn 11/SCT
- Th/Tá Phan Văn Khởi tự Phấn SLL/NKT
và có thể còn nhiều vị mà tôi không biết đến.

 Võ Phòng Phủ Tổng Thống: BS. Th/Tá Hồ Vương Minh, Đ/Tá Trần Thanh Điền, Đ/Úy Nguyễn Xuân Tám (tang lễ TT Nguyễn Văn Thiệu). 

Sunday, May 10, 2026

TRONG CUỘC ĐẢO CHÁNH 1-11-1963. Tác giả Đặng Kim Thu, SVSQ/TVBDL/K19, cựu tùy viên của Đại Tướng Cao Văn Viên,

Từ đơn vị tác chiến (tiểu đòan 41 BĐQ), tôi được lệnh về làm sĩ quan tuỳ viên cho đại tướng Cao văn Viên, tổng tham mưu trưởng vào cuối năm 1966. Vì tôi không có nhà ở Sài Gòn nên ông bà đại tướng cho tôi tạm ở trong tư dinh thời gian đầu .

Với công việc hoàn toàn mới lạ, nhiều bỡ ngỡ, cộng thêm sự gò bó ở trong dinh của đại tướng , mới đầu tôi hơi nản lòng, nhưng nhờ sự giúp dỡ, chỉ dẫn tận tình của người tiền nhiệm của tôi là Quách tinh Cần K20VB, và sự cởi mở của ông bà đại tướng nên tôi cảm thấy an tâm đôi chút.
Những ngày đầu về ở trong dinh của đại tướng, cứ sau bữa cơm tối ông xuống phòng tùy viên chỉ rõ cách sinh hoạt trong nhà, cách tiếp nhận đìện thoại từ bên ngoài gọi vào, an ninh vòng ngoài, an ninh vòng trong, và v.v…
Ông bảo tôi: thông thường các tướng lãnh khác tôi đều tiếp họ tại văn phòng, ngoài giờ làm việc tôi không tiếp ai ở nhà riêng cả, nếu có vi tuớng tá nào muốn gẵp tôi ngoài giờ làm việc, mà không có hẹn, chú không được mở cổng, mà phải báo tôi trước để tôi quyết định có tiếp họ hay không, dặc biệt chú phải quan sát, xem vĩ tướng đó có đem theo lính hộ tống hay không, trong mọi trường hợp chú đừng cho lính hộ tống vào bên trong dinh, cổng phải luôn luôn khóa chốt
Nhưng đặc biệt có hai vị cựu tướng lãnh khi tới nhà muốn gặp tôi bất cứ lúc nào, chú cũng mở cổng mời vào phòng khách rồi báo tôi ra tiếp, không cần phải hỏi tôi trước, hai vi đó là trung tướng Trần văn Đôn và trung tướng Tôn thất Đính, mà chú có bao giờ thấy hai vị tướng đó chưa? Tôi trả lời “dạ chỉ biết qua hình ảnh trên báo chí”. Ông bảo cũng tốt, vậy thi ráng nhận diện nếu hai vị đó tới. Xong ông nhìn tôi thấy có vẻ như tôi muốn tìm hiểu lý do mà hai ông cựu tướng này được đại tướng ưu ái như vậy, ông nói thêm chú muốn biết tại sao tôi đối xử với hai ông đó đặc biệt như thế chứ gì, được rồi để mai tôi kể cho chú nghevì mai là chúa nhật có nhiều giờ rảnh hơn”
Hôm sau ăn cơm trưa xong ông xuống phòng tôi và bắt đầu kể:
Sau đây là lời ông Cao văn Viên
“Ngày 1 tháng 11 năm 1963 là ngày lễ Các Thánh, quân nhân, công chức nghỉ buổi sáng khoảng 10 giờ sáng tôi được điện thoại của chánh văn phòng thiếu tướng Khiêm mơi vào Bộ tổng tham mưu họp ở phòng họp số 1, và phải có mặt trước 1 giờ, tôi tới lúc 1 giờ kém 10 phút, thấy có đông các đơn vị trưởng sẵn đó rồi, nhìn mặt toàn là các sĩ quan thân tín của ông Diệm, đúng 1 giờ 2 qưân cảnh ở ngoài đóng cửa phòng họp và khoá lại, mọi người trong phòng ngơ ngác nhìn nhau, đại tá Lê quang Tung nói lớn: “Họp hành khỉ mẹ gì, ai chủ toạ phiên họp sao chưa tới mà họ khoá cửa nhốt mình rồi, chuyện gì đây”, vài phút sau đó có tiếng mở cửa, đại úy Nhung cận vệ của trung tướng Dương văn Minh đứng ngoài cửa nói với vào: “Mời đại tá Lê quang Tung Lưc Lượng Đặc Biệt và đại tá Cao văn Viên Nhẩy Dù lên lầu gặp trung tướng Dương văn Minh, vì đại tá Tung ngồi gần cửa nên bước ra trước, tôi ở trong xa cửa hơn nên đi ra sau, Khi tôi ra khỏi phòng họp thì nhìn thấy đại tá Tung đã bị đại úy Nhung còng tay dẫn xuống xe, còn tôi cũng bị 1 sĩ quan QC còng nhưng mới vừa bị còng 1 tay thì tình cờ thiếu tướng Tôn thất Đính trên lầu đi xuống chợt thấy vậy, ông bảo tháo còng tôi ra, rồi sĩ quan đó cùng tướng Đính dẫn tôi lên lầu gặp trung tướng Minh .
Tướng Minh nói: Hôm nay “moi” và một số các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm “toi” nghĩ sao? Tôi trả lời, chuyện quan trọng như vậy mà tới giờ này trung tướng mới cho tôi biết thì tôi đâu có quyết định được gì. Lúc đó trung uý Trương ( hay Trần) Tự Lập sĩ quan tùy viên của trung tướng Minh lăm le khẩu súng carbine chĩa vào lưng tôi như sẵn sàng bắn. Anh ta hỏi tôi “ Đại tá có theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không?” Tôi đáp”tinh thần của quân nhân thuộc binh chủng nhẩy dù không trả lời trước áp lực” thiếu tướng Đính thấy vậy bảo tên trung úy Lập đừng hỗn với cấp trên, rồi tướng Đính dẫn tôi về lại phòng sô 1 đóng cửa lại.
Vài vị sĩ quan đang bị nhốt chung trong phòng tới hỏi tôi chuyện gì vậy? Tôi nói họ đảo chánh tổng thống Ngô đình Diệm. Có người hỏi: còn đại tá Tung đâu? Tôi nói bị còng dẫn đi chỗ khác rồi”.
Khoảng 15 phút sau tôi lại bị dẫn lên gặp trung tướng Minh lần nữa, lần này trung tướng Minh nói với tôi:”có 1 tiểu đoàn nhẩy dù theo “Chiến Đoàn Vạn Kiếp” của trung tá Vĩnh Lộc từ Bà Rịa về tới Sài Gòn, nhưng không chịu tấn công vào Dinh Gia Long, đòi phải được liên lạc trực tiếp với “toi”, vậy nếu “toi” chịu làm 2 việc như sau: Thứ nhất tuyên bố theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, thứ hai ra lệnh cho tiểu đoàn nhẩy dù ở Bà Rịa về tấn công vào Dinh Gia Long, khi thành công “moi” gắn lon thiếu tướng cho “toi” liền. Tôi trả lời rằng chuyện của trung tướng làm, tôi không chống đối, nhưng bảo tôi phản lai “thầy” tôi thì tôi không làm, trung tướng thông cảm cho tôi (lời người viết: xin nói rõ thêm, trước khi chỉ huy lực lượng nhẩy dù, đại tá Viên là chánh võ phòng rồi tham mưu trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống);
“Tôi được dẫn trả lại phòng họp số 1, các vị sĩ quan trong phòng lại hỏi, tôi trả lời chưa hết thì chánh văn phòng của thiếu tướng Khiêm xuống dẫn tôi lên văn phòng giữ riêng tôi ở đó.
Sau khi đảo chánh thành công tôi được cho về nhà, rồi hằng ngày tôi phải lên bộ tổng tham mưu chờ lệnh. Độ 5,6 ngày sau trung tướng Khiêm (lên trung tướng ngày 2 tháng 11 năm 1963) tự ý quyết định cho tôi trở về chỉ huy lữ đoàn nhẩy dù như cũ, còn các vị sĩ quan bị nhốt chung với tôi đa số bị giải ngũ hoặc bị hạ tầng công tác.
Rồi sau đó không lâu tôi được trung tướng Đôn cho biết: sau khi tôi từ chối lời yêu cầu cuả trung tướng Minh thì trung tướng Minh bàn với trung tướng Đôn định đưa tôi theo số phận của đại tá Lê quang Tung, nhưng trung tướng Đôn không đồng ý và nói rằng trước khi tiên hành cuộc “cách mạng” :anh” (ông Minh) có hứa với chúng tôi hạn chế tối đa vìệc gây đổ máu các sĩ quan cấp tá không ủng hộ chúng ta, anh đã cho giết đại tá Hồ tấn Quyền, giết đại tá Lê quang Tung, bây giờ anh muốn giết luôn đại tá Viên nữa sao? Hơn nữa dù “lui” không hợp tác với mình nhưng “lui” đâu có chống mình mà giết “lui”.
Tôi nghĩ dường như tướng Khiêm cũng biết ý định đó của tướng Minh nên mới ra lệnh đem tôi lên văn phòng của ông giao cho chánh văn phòng là đại úy Phạm bá Hoa giữ riêng tôi ở đó, rồi ông Khiêm bảo:”Ai muốn kêu đại tá Viên đi đâu phải có lệnh của tôi mới cho đi”
Đấy là 3 người ơn cứu tử tôi đó.
Vai trò của đại tá Cao văn Viên trong cuộc chỉnh lý ngày 30-1 -1964.
Một lần tôi theo đại tướng Viên ra Đà Nẵng thăm các đơn vị thuộc Quân Đoàn I, Tối lại, ngủ ở Tòa Thị Chính Đà Nẵng, lúc đó trung tá Lê chí Cường gốc nhẩy dù làm thị trưởng.
Đầu hôm thời tiết còn nóng, thầy trò tôi chưa ngủ được nên đại tưóng kể chuyện Đảo Chánh, chỉnh lý cho tôi nghe. Giờ đây thì chuyện dù đã xa xưa, nhưng thiết tưởng còn nhiều người chưa biết rõ, hoặc biết không chính xác, không đầy đủ, nên tôi mạo muội thuật lại những gì đại tướng Viên kể cho tôi nghe với ước mong giúp quí vị độc giả đánh giá được 1 phần sự thực của 1 giai đoạn của đất nước.
Nguyên nhân chỉnh lý 30-1-1964, đại tướng Viên kể rằng :
“ Trong nội bộ các tướng lãnh: sau ngày Đảo Chánh 1-11-1963 thành công, trong hàng tướng lãnh trụ cột của cuộc đảo chánh có những bất đồng ý kiến về việc thành lập chính phủ, về việc sắp xếp nhân sự và quan trọng hơn là sự tranh công tranh quyền giữa các tướng với nhau, cho nên dẫn tới sự chia rẽ.
Ngoài ra trung tướng Minh ỷ quyền là chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng nên tỏ ra độc đoán trong mọi quyết định. “ Chẳng hạn như ông Minh muốn đưa ông Nguyễn ngọc Thơ nguyên Phó Tổng Thống của ông Ngô Đình Diệm ra làm thủ tướng, nhìều tướng lãnh không đồng ý, vì cho rằng nguyên Phó Tổng Thống của chính phủ vừa bị lật đổ ra làm thủ tướng của chính phủ mới thì thật là vô lý, nhưng ông Minh cứ làm theo ý ông.
“Về phía Tòa Đại Sứ Mỹ thì ông Đại Sứ đề nghị với ông Minh nên cử ông Trần quốc Bửu Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công ra lập chính phủ với lý do ông Bửu có nhiều uy tín trong giới bình dân và hiện trong tay ông Bửu có hơn 20 ngàn đoàn viên của Tổng Liên Đoàn Lao động là lực lượng hùng hậu sẽ hỗ trợ cho chính phủ, ông Dương văn Minh chẳng những không nghe mà còn ra lệnh cho thìếu tướng Đỗ Mậu bắt giam ông Trần quốc Bửu với lý do rất mơ hồ.
Thêm nữa, ông Minh lại gọi 2 người đã rời khỏi quân đội hồi năm 1955 đang lưu vong bên Pháp( vì chống ông Ngô đình Diệm) trở về hợp tác, đó là thiếu tướng Nguyễn văn Vỹ và đại tá Trần đình Lan(phòng2) trong quân đội Liên Hiệp Pháp; đìều này có vài tướng trẻ mới được thăng cấp như thếu tưóng Nguyễn hữu Có, Đỗ Mậu, thiếu tương Dương ngọc Lắm, trung tướng Trần thiện Khiêm đều không đồng ý, bởi các vị này cho rằng ông Nguyễn v Vỹ và ông Lan đã lỗi thời và đã rời khỏi quân đội lâu rồi, không còn thích hợp với quân đội hiện giờ nữa, các ông Khiêm, Có, Lắm cho ràng, hiện nay trong quân đội có nhiều cấp tá trẻ có nhiều năng lực và được đào tạo chánh quy, cứ mạnh dạn giao việc cho họ, chứ cần gì phải gọi 2 người đó về hợp tác.
Ông Dương văn Minh chẳng thèm nghe mà vẫn cứ hành xử theo ý riêng mình dựa trên tình cảm cá nhân.
“Phần tôi (đại tá Cao văn Viên) thì mỗi ngày trình diện ở Bộ Tổng Tham Mưu, nghe nói ông Minh định cho tôi giải ngũ, nhưng nhờ trung tướng Khiêm tự ý cho tôi trở về nhẩy dù ngày 6-11-1963 mà không hội ý với ông Minh, vì việc này nằm trong thảm quyền của ông Khiêm.
Về sau mới biết, sở dĩ ông Khiêm hành động như vậy vì ngày 5-11-1963, ông Minh nói với ông Khiêm rằng đại tá Nguyễn chánh Thi ở Campuchia sắp về, ông Minh sẽ cho ông Thi chỉ huy lại Lực Lượng Nhẩy Dù, diều này chính ông Khiêm không muốn, nên hành động trước một bước, vì nếu để ông Nguyễn chánh Thi chỉ huy nhẩy dù thì khi ông Khiêm muốn mưu đồ gì cũng không thể xử dụng lực lượng nhẩy dù được vì ông Khiêm với ông Thi không thân nhau, vả lại cũng còn ngờ vực không biết ông Thi còn ôm mối hận ngàỳ 11-11-1960 cách 3 năm trước hay không.
Ngày 8-11-1963 đại tá Nguyễn chánh Thi từ Nam Vang đi đường xe về tới Gò Dầu Hạ, được ông Khiêm cho trực thăng đi đón về Tổng Tham Mưu, sau đó ông Khiêm cử ông Thi làm chủ tịch Ủy Ban Điều Tra tài sản và tội ác của ông Ngô đình Cẩn, thế là ông Thi trở ra miền Trung làm việc.
Từ những việc như vậy đưa đến những xích mích giữa ông Khiêm và ông Minh, rồi một ngày vào hạ tuần thang 12-1963, ông Minh cử ông Khiêm đi công du qua Nhật và Đài Loan, ở nhà ông Minh giao cho Trung tướng Lê văn Kim thay thế trung tướng Khiêm giữ chức vụ Tham Mưư Trưởng Liên Quân( không làm lễ bàn giao), đến khi ông Khiêm trở về thì ông Minh chỉ định ông Khiêm làm tư Lệnh Quân Đoàn III chia bớt nhiệm vụ của trung tướng Đính đang kiêm nhiệm Bô An Ninh.Thời gian này Quân Đoàn III còn nằm trong trại Lê văn Duyệt Sài Gòn chưa dời lên Biên Hoà. Vậy là ông Khiêm bị hạ tầng công tác nên trở nên bất mãn.
Nguyên nhân bên ngoài
Ông Dương văn Minh gây cho Đại Sứ Mỹ cú “sốc” đầu tiên là không nghe theo đề nghị của Đại Sứ Mỹ đề cử ông Trần quốc Bửu làm thủ tướng mà ông Bửu còn bị bắt giam với tội danh mơ hồ.
Sau khi đảo chánh thành công, ông Minh thường liên lạc với đại sứ Pháp ờ Sài Gòn, hơn là đại sứ Mỹ, và có vài lần ông Minh mời Đại Sứ Pháp đến dinh “Hoa lan” của ông dùng cơm tối, có sự hiện diện của ông Đôn, ông Kim, ông Xuân …mà không có sự hìện diện của viên chức Mỹ nào cả. Việc này không qua khỏi cặp mắt “cú vọ” của cơ quan CIA ở Sài Gòn khiến họ đâm ra hoài nghi. Ngoài ra mỗi khi có việc phải giao tiếp với viên chức của toà đại sứ Mỹ và Bộ Tư Lệnh M.A.C.V, các ông Minh, Đôn, Xuân, Kim …chỉ nói toàn tiếng Pháp mà không nói 1 câu tiếng Anh nào, điều này cũng gây khó chịu và tự ái đối với các viên chức Mỹ không ít, và họ nghĩ là các tướng có khuynh hướng thân Pháp.
Tổng hợp những chuyện kể trên đưa đến cuộc chỉnh lý
Chỉnh lý ngày 30-1-1964
Chiều ngày 29-1-1964 tướng Khiêm mời tướng Khánh ở Đà Nẵng về Sài Gòn, nói có chuyện cần bàn với tướng Khánh, rồi tướng Khiêm gặp tôi (Đại tá Viên) chỉ thị cho tôi chuẩn bị lực lượng nhẩy dù đi bắt 5 vị tướng: Đôn, Kim, Xuân, Đính,Vỹ và người thứ 6 là thìếu tá Nhung(người đã giết ông Ngô đình Diệm và ông Ngô đình Nhu), thiếu tá Nhung đang ở trong nhà trung tướng Dương văn Minh.
Tôi đề nghị với trung tướng Khiêm nên giao người khác đi bắt ông Đôn và ông Đính, chứ tôi rất khó xử nếu phải đi bắt 2 người mà cách đâỷ 3 tháng đã là ân nhân cứu tử tôi. Trung tướng Khiêm thấy đề nghị của tôi hợp lý nên giao cho tiểu đoan 2 TQLC lúc đó do thiếu tá Cổ tấn tinh Châu làm TĐT đi bắt tướng Đôn và tướng Đính.
Lệnh tổng quát của trung tướng Khiêm cho tôi và thiếu tá Châu là không được liên lạc hoặc tiếp xúc với bắt cứ ai cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.
Thời gian này tất cả mọi đơn vị muốn vào lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô phải có lệnh của Tư Lệnh QĐ111, và riêng TĐ2/TQLC vì đang đóng quân bên ngoài lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô nên tướng Khiêm ký sự vụ lệnh giao cho 1 đại úy thuộc QĐIII đem đến cho TĐT/TĐ2/TQLC để di chuyển tiểu đoàn vào BKTĐ mà không bị ngăn cản.
Tr/t Khiêm ra lệnh cho thiếu tá Phạm bá Hoa chuẩn bị 1 xe dodge truyền tin để theo dõi việc đi bắt 5 ông tướng mà chính t/t Hoa phải trực máy truyền tin.
Giờ xuất phát đi bắt là 23 giờ và các đường giây điện thoại ở nhà 5 ông tướng đã bị ông Khiêm cho lệnh cắt đứt hết rồi, không liên lạc được với ai cả.
Đúng 23 giờ tôi được lệnh xuất phát để bắt 3 ông tướng : Mai hữu Xuân, Lê văn Kim và Nguyễn văn Vỹ, rồi sau cùng đến bắt th/t Nguyễn văn Nhung tại nhà của ông Dương văn Minh.
Tiểu đoàn 2/TQLC được giao nhiệm vụ đi bắt 2 ông tướng Tôn thất Đính và Trần văn Đôn, cả 2 đơn vị xuất phá cùng một lúc.
Đến khoảng 2 giờ sáng 5 vị tướng : Đôn, Kim, Xuân, Đính, Vỹ được đưa vô Bộ Tổng Tham Mưu, riêng th/t Nhung thì tôi đưa về trại Hoàng Hoa Thám bản doanh của lữ đoàn nhẩy dù.
Trung tướng Nguyễn Khánh ở Đà Nẵng được trung tướng Khiêm mời về Sài Gòn từ chiều, đang ở nhà chờ, đến bấy giờ mới được tướng Khiêm mời vào TTM cho biết:”Nhiệm vụ của tôi(tướng Khiêm) tới đây đã xong, phần còn lại tôi giao cho anh(tướng Khánh).chuẩn bị sáng mai anh họp báo.
Tướng Khánh nói:”công của anh thì anh làm luôn đi”. Tướng Khiêm vãn khước từ và gợi ý với tướng Khánh, khi họp báo cứ nói các ông đó có ý định “trung lập thân Pháp” nên mình phải ra tay ngăn chặn.
Trung tướng Khánh liền gọi ra Quân Đoàn I Đà Nẵng dặn dò chuyện gì đó, rồi đại tá Thi nghe được lièn bay vô Sài Gòn kịp sáng sớm vào TTM ngồi họp báo chung với tướng Khánh, điều này khiến báo chí và dân chúng tưởng rằng ông Khánh và ông Thi làm cuộc chỉnh lý, chứ không biết rằng trong đêm 1 mình tướng Khiêm đích thân chỉ huy 2 vị sĩ quan cấp tá là tôi và thiếu tá Cổ tấn tinh Châu đi bắt 5 ông tướng và thiếu tá Nhung, xong rồi mới giao cho ông Khánh.
Tóm lại ông Khiêm dọn sẵn “mâm cỗ” cho ông Khánh hưởng.
Hôm saụ 5 vị tướng bị chỉnh lý được phi cơ chở ra Đà Nẵng rồi vài ngày sau lại chở vô quản thúc ở Đà Lạt. Ông Khánh lên làm thủ tướng từ lúc đó.
Số phận của th/t Nhung
Đại Tướng viên kể lại rằng:
“Khi tới nhà ông Minh để bắt t/t Nhung thì tôi gặp ngay tướng Minh, ông hỏi lệnh của ai biểu bắt,
Tôi(đại tá Viên) trả lời: lệnh của tr/t Trần thiện Khiêm.
Ông Minh hỏi: ông Khiêm hiện giờ ở đâu?
Tôi trả lời: thưa trung tướng tôi không biết.
Ông Minh lại hỏi tiếp: vậy đại tá nhận lệnh của ông Khiêm từ lúc nào? lý do nào bắt cận vệ của tôi.
“Tôi đáp: xin tr/t hỏi ngay tr/t Khiêm, còn tôi chỉ thi hành lệnh. Liền đó tướng Minh bốc điện thoại gọi ai đó, nhưng gọi không được, bèn dằn mạnh điện thoại xuống bàn, thấy vậy tôi nói :”điện thoại bị cắt giây rồi, trung tướng không gọi được ai đâu”, tôi chào tr/t Minh rồi dẫn th/t Nhung ra xe đưa về trại Hoàng Hoa Thám.
Tại đây tôi giao th/t Nhung cho sĩ quan an ninh nhẩy dù hỏi cung th/t Nhung, chủ yếu ở điểm: ai ra lệnh giết Tổng Thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Nhu? Sĩ quan an ninh nhẩy dù đưa giấy, viết bắt ông ta tự viết lời khai để làm chứng cớ. Sau khi lấy lời khai xong, khuya ngày hôm sau sĩ quan an ninh (cấp bậc trung úy) cho người vô phòng giam bóp cổ Nguyễn Nhung chết rồi lấy giây giầy”saut” của chính ông Nhung thắt vòng treo cổ Nguyễn Nhung lên trần nhà.
Đêm đó tôi về nhà ngủ, sáng sớm hôm sau, sĩ quan trực ở trại Hoàng Hoa Thám đìện thoại báo cáo tôi: th/t Nhung thắt cổ tự tử chết rồi, tôi bảo sĩ quan trực gọi bác sĩ Văn văn Của, lúc ấy là th/t y si trưởng ND ráng cứu chữa ông ta coi có thể sống lại được không? .
Sau đó y sĩ thiếu tá Văn văn Của điện thoại báo tôi: “Thưa đại tá hết phương cứu chữa rồi và ông Của làm bản báo cáo, y chứng xác nhận, thiếu tá Nhung đã chết do thắt cổ tự tử”. Cuộc điện đàm này tôi có cài máy ghi âm để thủ thân về sau này.
Trong lời tự khai của th/t Nhung, ông ta nói rằng ông Dương văn Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Nhu trước khi đoàn xe về tới Bộ TTM, ngoài ra trên đường di chuyển nếu có sự bất trắc gì xẩy ra thì chỉ nghe theo lệnh của thiếu tướng Mai hữu Xuân mà thôi, khi ông Nhung đâm ông cố vấn Nhu thì bị ông Diệm chống cự quyết liệt nên buộc lòng ông Nhung phải giết luôn ông Diệm
Ngoài ra khi khám tử thi của t/t Nhung, sĩ quan an ninh lấy ra được một mẩu giấy viết sẵn giấu trong quần, định tìm cách gửi về nhà, nhưng chưa gửi được. Nội dung như sau:”Em ơi! Bọn Diệm , Nhu sống lại rồi, chắc anh phải chết, nếu anh có mệnh hệ gì,em phải ráng nuôi các con cho khôn lớn, anh đang bị nhốt trong lữ đoàn nhẩy dù”.
Lời tự khai và cái thơ riêng gửi cho vợ của t/t Nhung được đưa cho trung tương Khánh giữ.
Nhận định riêng của người viết:
Về cái chêt của thiếu tá Nhung, tôi nghĩ rằng vị sĩ quan an ninh nhẩy dù không dám tự ý hành động, mà phải có lệnh của 1 trong 3 vị: tuớng Khánh, tướng Khiêm hoặc đại tá Viên? Nhiều lần tôi muốn hỏi đại tướng Viên nhưng lại rụt rè không giám hỏi vì sợ tướng Viên giận và cho rằng tôi tò mò.,
Theo tôi cuộc chỉnh lỷ 30-1-1964 chắc chắn phải có bàn tay “phù thuỷ” của Mỹ thúc dẩy cho tướng Khiêm thực hiện, mà nguyên nhân chánh là do trung tướng Dương văn Minh làm phật lòng người Mỹ, nhưng ông Minh không bị loại vì lúc bấy giờ dân chúng và khối phật giáo Ấn Quang vẫn còn xem ông Minh như người hùng”cách mạng” nếu loại hẳn ông Minh sợ e có xáo trộn xã hội và sợ thượng toạ Thích trí Quang sách động phật tử “xuống đường”ủng hộ ông Minh. Còn 5 ông tướng bị chỉnh lý vì thân tín với ông Minh nên bị làm vật tế thần, bị chụp lên đầu cái mũ ”trung lập thân Pháp”, để chặt hết tay chân của ông Minh, biến ông Minh thành “con cua bị gẫy càng” ngồi đó nhìn ông Khánh tung hoành
Phụ chú;
Những điều tôi thuật lại cho quý độc giả trên đây là tôi được nghe đại tướng Viên kể lại lúc tôi đang là sĩ quan tùy viên của ông, Sau này vào tháng 8 năm 2004, tôi từ Cali qua Virginia thăm đại tướng Viên trong 1 nursing home, tình cờ có đại tướng Khiêm tới, ông Viên, ông Khiêm và tôi cùng ngồi nói chuyện chung, đây là dịp may hiếm có, tôi hỏi đại tướng Khiêm vài điều mà tôi ấp ủ từ lâu vì không biết hỏi ai cho chính xác.
Tôi hỏi: Thưa đại tướng, em nghe nói ngày đảo chánh 1-11-1963 có 1 người Mỹ ở trong phòng của đại tướng ngay từ giờ phút đầu để theo dõi cuộc đảo chánh, em muốn biết lời đồn đó có đúng không?
Đại tướng Khiêm nói: lời đồn đó đúng, người Mỹ đó là trung tá Conein, ông ta ở trong 1 phòng nhỏ sát phòng làm việc của tôi sau tấm vách ngăn mà không hề bước qua phòng tôi trong thời gian tiến hành đảo chánh.
Tôi cho chú biết thêm, ông Conein này là 1 sĩ quan trưởng của 1 toán tình báo Mỹ đã từng nhẩy dù xuống vùng Việt Minh kiểm soát ở miền Bắc, Việt Nam năm1945 để giúp Hồ chí Minh đánh Nhật, ông ta là người biết nhiều về Hồ chí Minh và mặt trận Việt Minh.
Tôi hỏi tiếp : thưa đại tướng, em được biết, sau khi đại tướng làm cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964 thiếu tá Nhung đã khai, ông Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Diệm, ông Nhu , lời khai đó thật không? Liệu sau lưng ông Minh có 1 thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh làm chuyện đó không?
Đại tướng Khiêm trả lời: Chú nghe kỹ tôi nói đây, trước ngày đảo chánh (1-11-1963) tôi đưa ra 1 điều kiện tiên quyết với ông Minh, liên quan đến Tổng Thống Diệm như sau : phải bảo đảm sinh mạng Tổng Thống Diệm và để T/T Diệm bình an xuất ngoại. Ông Minh và ông Kim đều đồng ý, sở dĩ có ông Kim vì mới đầu ông Kim có 1 nhóm riêng cũng âm mưu đảo chánh, về sau 2 nhóm mới kết hợp lại.
Khi biết ông Diệm, ông Nhu bị giết, lúc ấy tôi mới biết luôn đại tá Quyền, đại tá Tung và em của đại tá Tung là Lê quang Triệu cũng bị giết, còn ông này (ông Khiêm vừa nói vừa nhìn qua ôngViên) cũng bị còng tay, may mà ông Đính thấy kịp chứ không thì cũng theo Hồ tấn Quyền và Lê quang Tung rồi (ông Viên và ông Khiêm cùng cười).
Ông Khiêm nói tiếp: Tôi ở văn phòng của tôi trên lầu còn ông Minh, ông Kim, ông Đôn ngồi ở phòng của đại tướng Tỵ, lúc đó đại tướng Tỵ đang dưỡng bệnh, nên ông Đôn làm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng. Họ hành động lến lút, giấu không cho tôi biết rồi họ quyết định với nhau tôi có hay biết gì đâu.
Chú nghĩ coi: ông Diệm đã gọi đìện thoại bảo cho xe đến đón ông về TTM, như vậy nghĩa là ông đã đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng. Ông Minh, ông Kim độc ác quá! Cho nên tôi bất mãn với 2 ông ấy từ lúc đó.
Còn chú hỏi liệu có thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh giết ông Diệm, tôi cho chú biết thêm chi tiết này, khi ông Conein ở trong phòng nhỏ bước ra phòng tôi trung tướng Minh cho ông ta biết ông Diệm và ông Nhu chết rồi, ông Conein tỏ ra tức giận không nói với ông Minh một lời,ông quay trở vào phòng và thốt lên một câu:”Do a terrible thing” rồi một lúc sau ông Coneil bỏ ra về. Thế đó chú tự suy nghĩ”
Tôi cám ơn đại tướng Khìêm, rồi chúng tôi tiếp tục nói chuyện linh tinh khác suốt cả buổi sáng hôm đó.
Cựu Sĩ quan tùy viên Đặng kim Thu

Tuesday, April 14, 2026

Lính Lôi Hổ hay Hổ Lôi / Hoàng Như Bá (Lê Ái Tử)

Mấy chục năm xa xứ, nay lại có người nói về lính Lôi Hổ và danh xưng Biệt Kích. Cá nhân tôi may mắn được phục vụ một thời gian khá lâu trong chương trình Lôi Vũ ở Delta của Lực Lượng Đặc Biệt và hành quân cấp Toán lê lết khắp các đơn vị trong Nha Kỹ Thuật, Sở Liên Lạc, Sở Công Tác với các danh xưng: Lôi Hổ, Hắc Long, Thăng Long hầm bà lằng, cùng ăn cùng ngủ, cùng chia xẻ ngọt bùi hiểm nguy trong những chuyến công tác với những người em, người bạn được gọi là Biệt Kích. Viết lên điều này không phải để khoe thành tích, nỗ, háo danh...v...v.. mà để chứng minh cá nhân tôi có một sự hiểu biết căn bản tối thiểu, để lạm bàn về danh xưng Biệt Kích đã đề cập. Cũng vì bạn không hiểu toàn bộ sự việc, cố tình quên đi sự hợp tác giữa Bộ Chỉ Huy do các cán bộ QLVNCH phối hợp với phía Mỹ để sản sinh ra những Toán nôm na tạm gọi là Biệt Kích điều hành bởi một hệ thống hành quân tình báo chiến lược, đảm nhận nhiều nhiệm vụ tối mật, gây nhiều thiệt hại cho địch, mà các chiến binh Bắc Việt trên đường vào Nam phải kiêng dè nhắc nhở nhau đề phòng, coi chừng BIỆT KÍCH GIÁN ĐIỆP. Để tránh những hiểu lầm của người đọc, có phương hại đến danh dự của toàn thể các Cựu quân nhân phục vụ trong đơn vị Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, tôi xin được trình bày rõ hơn một chút, vẫn chưa đầy đủ. (không ai dám tự cho mình là hiểu biết hoàn toàn về hoạt động CHIẾN TRANH NGOẠI LỆ của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và Nha Kỹ Thuật được biến đổi qua từng thời kỳ...). để ai đó mở rộng tầm mắt, nhận rõ thân phận mình, đừng có lớn lối chứng tỏ cái tôi là lính Biệt Kích oai phong lẫm liệt mà người khác cần phải CÁO MƯỢN OAI HỔ. Muốn viết gì thì viết nhưng cũng phải nhớ đến cái tình, tình của những thằng lính nhảy toán, tình với các cấp chỉ huy có thể không cùng sát cánh bên nhau, nhưng có một thời gian vui, buồn, giận hờn, lo lắng với biết bao muôn vàn kỷ niệm. Cọp chết để da, người ta chết để tiếng, có còn gì nửa đâu mà cắn xé, mà vấy bẩn nhau để làm gì??? Quân đội nào cũng phải có kỷ luật, các vị QLVNCH ngày xưa vì cảm thương cho những số phận hẩm hiu của người hoạt động lẻ loi, nên lúc nào cũng vui vẻ bỏ qua những giây phút khùng điên tự cao tự mãn vô kỷ luật của một số ít anh em được mang danh là Biệt Kích.. Dù có được một vài ông Mỷ đở lưng, nhưng cán bộ vẫn có quyền nhốt hoặc đuổi về vườn khi vi phạm kỷ luật, đúng không nào??. Là những người lính được phía Mỷ trả lương, nhưng đồng lương đó được tính trong ngân khoản viện trợ hàng năm cho QLVNCH, dù có ăn lương Mỹ vì đất nước ta nghèo nàn, nhưng chúng ta chiến đấu cho VN. Hảnh diện gì khi tự cho mình là Biệt Kích được chính chủ Mỷ trả lương, để khinh miệt coi thường người lính QLVNCH!


Biệt Kích là gì?
Biệt Kích là danh xưng để chỉ định những người lính chính quy đảm nhận những nhiệm vụ trọng yếu trong lòng đất địch,họ được huấn luyện thành thuộc kỷ năng chiến đấu lẻ loi, sự chịu đựng bền bỉ và nhất là thoát hiểm mưu sinh để sống còn. Họ am hiểu và biết xử dụng mọi vũ khí của ta và địch và chấp nhận mọi sự rủi ro có thể xảy ra, kể cả sự bỏ rơi! không được hưởng quy chế tù binh khi bị bắt..v...v Chứ không phải như Hà văn Sơn tự là Sơn nổ, cũng xưng BK  không biết rút chốt lựu đạn, nên muốn tự sát với địch mà không thành?!!!
  Cũng có loại Biệt Kích  được huấn luyện cấp tốc, chuyên về thực hành hơn là lý thuyết. Mỷ gọi các lực lượng này  Cilivian Irregular Defense Group (Viết tắt  C I D G. dịch là DÂN SỰ CHIẾN ĐẤU). Các cấp chỉ huy VN đặt cho hai chữ  Biệt Kích gọn nhẹ vì BIỆT là đặc biệt chỉ biết bóp cò là đã thành lính và KÍCH là đánh giặc không theo một nguyên tắc, bài vở nhất định nào. Không phải chỉ có phía Mỷ tuyển mộ và huấn luyện và trả lương mà đều có sự phối hợp với các cấp Sĩ quan, Hạ sĩ quan QLVNCH. Ngoài việc tuyển mộ và huấn luyện tại chỗ, có hai Trung Tâm dùng để huấn luyện cho các Dân sự chiến đấu  như Trung tâm của LLĐB ở Động Ba Thìn, chuyên  đào tạo bổ túc cấp Trung đội Trưởng và Đại đội trưởng  cho Biệt Kich. Trung tâm huấn luyện Yên Thế ở Long Thành chuyên huấn luyện xâm nhập bằng nhảy dù đêm, hoăc nhảy dù Halo, bắt tù binh,phá hoại..v...v cho các Toán Lôi Hổ của Sở Liên Lạc, trực thuộc Nha Kỷ thuật, bộ Tổng Tham Mưu.
Có nhiều loại Biệt Kích phụ trách mỗi công việc khác nhau. Binh chủng LLĐB thì có: Biệt Kích biên phòng (hành quân và phòng thủ các đồn biên phòng) Biệt Kích tiếp ứng: (cấp tiểu đoàn để tiếp ứng cho các Trại Biên phòng khi bị tấn công) Biệt Kích Thám Kích Tiền phong Delta: (hoạt động song hành với các Toán Delta). Biệt Kích Nùng: (canh gác các doanh trại cho Liên đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ). . Sở Liên Lạc thì có biệt kích Lôi Hổ; Biệt Kích An ninh: chuyên canh gác doanh trại; Biệt Kích Chiêu hồi; Sở Biệt Hải thì có các toán Biệt Kích Biệt Hải hoạt động ven biển miền Bắc. Ngoài ra có thêm Biệt Kích Long Hải do quân đội Úc tuyển mộ để hoạt động; Biệt Kích Thám sát tỉnh, Liên đoàn 81 người ta cũng gọi là lính Biệt Kích, nhưng chính danh là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy dù..v...v Chỉ sau khi các Toán xâm nhập ở miền Bắc, bị cầm tù được thả về qua định cư ở Mỹ thì danh xưng Biệt Kích mới được sáng giá. Mặc dù họ là quân chính quy, có cấp bậc, có số quân nhưng người ta gọi là BIỆT KÍCH NHẢY BẮC vì họ được nhận lảnh những công tác đặc biệt hoạt động trong hậu phương của địch ở miền Bắc. Chính những quân nhân hoạt động trong chương trình OP34; OP35 ở miền Bắc này mới đúng là Biệt Kích thứ thiệt, ra đi không hẹn ngày về!
 Tóm lại hai chữ Biệt Kích là do binh chủng LLĐB, Nha Kỹ Thuật,Sở Liên Lạc đẻ ra, tục danh là DÂN SỰ CHIẾN ĐẤU ăn lương Mỹ do VN cùng Mỹ chỉ huy, Những danh xưng Lôi Vũ, Lôi Hổ, Phượng Hoàng, Đề Thám, Hắc Long, Thăng Long chỉ là biệt danh của mỗi chương trình cũng do các cấp VN đặt để cho mỗi đơn vị phụ trách mà thôi.
  Ở đây người viết không muốn đi sâu vào tổ chức các đơn vị tình báo chiến lược, chỉ nói thêm một vài điều về danh xưng BK mà ông Cao Sơn nói chưa hết, hoặc lâu ngày tuổi già lẩm cẩm quên trước quên sau.
_Có phải BK do Mỹ thuê mướn trả lương và chỉ huy không?
  Bên binh chủng LLĐB ở các Trai Biên phòng, có 1 Toán A Mỷ phối hợp 1 Toán A/LLĐB VN. VN cùng tuyển mộ huấn luyện chỉ huy hành quân, phía Mỹ trả lương.
  Sở Liên Lạc phụ trách chương trình Lôi Hổ: Giai đoạn đầu toàn bộ do Mỹ, sau đó mỗi toán hành quân có hạ sĩ quan và sĩ quan QLVNCH cùng phối hợp, giai đoạn sau này vì bất đồng ngôn ngữ, nên Mỹ tổ chức những toán đi riêng và VN đi riêng, tuy nhiên việc quản trị quân số vẫn do BCH Mỹ Việt phụ trách. (năm 71 Toán Hãi Phong thuộc Chiến đoàn 1 mất tích, tôi được chỉ định tuyển mộ, huấn luyện thành lập lại toán này, chứng minh là Mỹ và QLVNCH luôn luôn có sự hợp tác chặt chẻ) Sau năm 1970 Mỹ bắt đầu rút quân, BK của LLĐB được đồng hóa qua chính quy, các cấp Trung đội trưởng, Đại đội trưởng được mang cấp bậc tương xứng. Đến năm 1973 Biệt Kích NKT mới giải nhiệm, được đồng hóa qua QLVNCH cấp binh nhì.
Không được đội nón ĐỎ
 Nón đỏ là màu nón của nhảy dù, là niềm tự hào của binh chủng, biết bao nhiêu người lính hy sinh để tô đậm màu nón, là trang bị của lính chính quy QLVNCH. BK là lực lượng bán quân sự không được quyền đội nón đỏ là chuyện đương nhiên
_Nổ
Đa số dành cho những người làm ít nói nhiều, việc lảnh 12 tháng lương trước khi đi công tác thì đã truyền tụng lâu rồi, từ khi có các Toán nhảy Bắc. Ai nổ thì tự bạn hỏi anh em BK là biết. Sở Liên Lạc dưới hệ thống chỉ huy của NKT, bạn không phải NKT ??? nên khi nêu lên vấn đề này bạn không mắc cở chăng? Ra Hạm đội là chuyện có gì lạ. Những anh em bị thương nặng, ở các trạm dã chiến không có đủ phương tiện, trực thăng tản thương của Mỹ thường hay đưa thẳng ra hạm đội, không chỉ BK, quân đội mà đôi khi dân thường hay tù binh bị bắt được sự yêu cầu của đơn vị hành quân Mỷ cũng được ra Đệ Thất Hạm đội để cứu cấp chửa trị cho đến khi bình phục. Hoặc trực thăng từ đệ thất hạm đội đảm trách đưa các Toán vào vùng hành quân, yễm trợ khi có nhu cầu là chuyện bình thường, tại bạn chưa biết mà thôi.
_Những nguyên nhân bạn mê Lôi Hổ cũng đúng, nhưng bạn quên những nguyên nhân khác. Là BK bạn muốn đào ngủ lúc nào cũng được. Đào ngủ xong muốn vào lại cũng xong (nên bạn cho là không bao giờ đào ngủ!) bạn là người lính đào ngủ ở QLVNCH vào BK khỏi bị chế tài bởi lệnh tầm nả. Còn nhiều nguyên nhân mà bạn mê Lôi Hổ, tôi không muốn nói ra.... . Với tỷ lệ quân số với các đơn vị Tổng trừ bị thì BK chết ít, chứ không phải là khó chết. Nhưng những giây phút căng thẳng, con tim tê cứng khi đảm nhận công tác phục kích bắt tù binh, đặt mìn phá hoại, bị địch lùng kiếm, đụng địch chạy thất điên bát đảo, thất lạc trong rừng như con mèo rụng lông, chưa kể những hồi hộp âu lo, một mình khi bị thương, bị địch bắt (có bao nhiêu Toán được cho là mất tích, số phận họ bây giờ ra sao bạn biết không?). Rồi thì khi đi trời nắng, khi về trời mưa (núi cao chi lắm núi ơi-núi che mặt trời không thấy trực thăng). Hoạt động ở vùng Trung lào và Thượng Lào hết lương thực lại hát bản (Mây mù trên núi cao, trực thăng không dám vào, tụi mình đoi sắc đói!) Bạn được may mắn không tham dự những chuyến hành quân đặc biệt, xâm nhập bằng nhảy dù đêm hoặc xâm nhập bằng nhảy dù Halo, chưa gặp những trường hợp bi đát trên, nên bạn chưa hưởng thụ được sự nguy hiểm, hồi hộp lo sợ tột cùng của cảm giác..v...v và v...v Đâu phải lúc nào cũng một tháng hai kỳ phép, áo quần láng lẩy..... đi phép hết tiền xe!
_Trước khi bạn muốn chưởi ai thì nên hãy tự chưởi mình trước, mua sâm Hàn quốc về uống cho có sức mà chưởi. Trước hết hãy tự chưởi sao không cố gắng học để trở thành Bác sĩ, Giám đốc như bạn bè mà lại làm thằng lính BK đói cơm rách áo, đi phép thiếu trước hụt sau!.. Sau đó chưởi về sự hiểu biết của mình quá nông cạn nên cứ tưởng BK là lính Mỹ, không có liên hệ gì đến QLVNCH. Nếu là lính Mỷ, sao bạn không dùng thì giờ và sự hiểu biết, nhờ bạn bè Bác sĩ, Kỷ sư, Tổng giám đốc của mình để tranh đấu vận động cho quyền lợi anh em BK còn ở quê nhà???!!!! Còn gì nửa đâu để hằn học, mỉa mai nhau! Tàn cuộc rồi ai cũng giống ai. Anh em BK vẫn còn nhiều lắm, dù sau này đã qua đơn vị khác hoặc về an phận ở quê nhà nhưng cái tình của những thằng đi TOÁN, đã từng làm con tốt qua sông vẫn còn sống mãi trong tim trong gan. Họ vẫn sum họp sưởi ấm nhau vào dịp Tết, hoặc thăm viếng giúp đở nhau khi tai ương bệnh tật. Sắp vào hòm rồi, BK hay Nha Kỹ Thuật cũng là 1, bỏ cái thói quen lợi dụng quyền tự do bào chí,muốn viết gì thì viết ... Cũng xuất thân trường lớp có bạn là kỷ sư, Tổng giám đốc chứ đâu phải dốt nát như kẻ hèn này đâu. Bây giờ bạn muốn làm Đại Tướng cũng còn được nữa là, huống chi hai chữ Biệt Kích!
Lê Ái Tử