Dân Khánh Hội cựu trào chắc không ai quên nhà bảo sanh Lao Động, của bác sĩ Nguyễn Bính Phương.
Bác sĩ Phương là anh của nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Tháng 6/1954 , thiếu tá Nguyễn Bính Thinh bị thương nặng trong trận phục kích Binh Đoàn 100 của Pháp tại cây số 15, đèo Mang Yang nên viết văn lấy bút hiệu An Khê. Dù nhà bảo sanh có tên Lao Động, mọi người đều gọi là “Nhà thương Con Cò”, vì lẽ đơn giản phía trước nhà bảo sanh này có gắn hình một con cò đang chắp cánh bay, tháng 4 năm 1955, Bình Xuyên gây hấn ở Đô Thành, không biết vì lý do gì mà Bác sĩ Nguyễn Bính Phương bị mấy ông kẹ “công an xung phong” của Bình Xuyên bắt thủ tiêu!
Thời nay, thời của độc lập tự do hạnh phúc tràn trề, lại có “công an nhân dân” thường xuyên đánh đập người vô tội đến chết trong đồn hoặc ngay giữa công lộ mà vẫn nhởn nhơ, không khác đám công an côn đồ của Bảy Viễn! Người hiểu chuyện nói đó là “sống và làm viêc theo hiến pháp và pháp luật”. Còn người không hiểu “chủ nghĩa của ba ông râu rậm”, thì van vái Lăng Ông Bà Chiểu có linh, vặn họng “tụi nó” bớt….,đi xuống chưa tới 100 mét, gặp ngã ba Tôn Đản - Đỗ Thanh Nhơn, còn gọi ngã ba Cầu Cống. Có sử gia viết tên ông Đỗ Thanh Nhơn thành Đỗ Thanh Nhân, đó là quyền của nhà chép sử. Chớ thật ra, tên thật của người ta thì nên viết cho đúng, hà cớ gì phải đổi? Trong Gia Định tam hùng theo phò vua Gia Long, ngoài Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp còn ông Võ Tánh, sau nầy có người dám viết Vũ Tính, đọc thấy không giống con giáp nào!
Đường Đỗ Thanh Nhơn nầy, sau 1975 đổi tên thành đường Đoàn Văn Bơ, nếu có người chơi cắc cớ, hỏi Đoàn Văn Bơ là ai, tôi xin chịu thua, chỉ thấy thời “giải phóng vô”, nhiều tên đường rất có "ý nghĩa cách mạng" đua nhau xuất hiện! Như đường Huỳnh Văn Bánh, Đoàn Văn Bơ, Mai Thị Lựu, Nguyễn Văn Đậu. Toàn là các nhà cách mạng thuộc giai cấp lao động tiên phong tiên tiến, hoặc danh nhân văn hoá gì đó, làm sao dân ngu khu đen biết được. Nhưng cũng có nhiều người rất “tâm đắc”, vì đã có bơ, có đậu, có hột lựu chỉ cần thêm chút đường, tất có bánh ăn. Ăn xong mới biết đó chỉ là bánh vẽ, bèn ngẩn ngơ hỏi nhau: “giải phóng vô” chừng nào “giải phóng ra”?
Ngay đầu ngả ba Tôn Đản - Đỗ Thành Nhơn phía bên trái, có một ngôi chợ nhỏ mang cái tên thật bình dân: chợ Cầu Cống. Chợ nầy càng về sau càng sung, vì dân số Quận Tư càng ngày càng tăng. Có lẽ Quận Tư bao giờ cũng là đất dung thân cho dân nghèo bốn phương tám hướng. Khói lửa chiến tranh khiến biết bao mảnh đời thôn dã phải bỏ ruộng, bỏ vườn trôi giạt về đây tìm một chỗ nương náu.
Chợ Cầu Cống đặc biệt hơn các chợ khác vùng Khánh Hội, Vĩnh Hội vì người ta gọi nó tới ba tên mà ai cũng hiểu. Chợ Cầu Cống, chợ Cây Bàng hay chợ Cây Keo đều chỉ ngôi chợ nhỏ đó. Từ cuối đường Tôn Đản, vùng Tôn Thất Thuyết muốn đi chợ Cầu Cống mua đồ ăn (viết thức ăn nghe văn chương hơn, còn viết "đồ ăn" e có người "nhạy cảm", tưởng đồ nọ thành đồ kia thì tai hại bạc triệu) chỉ cần leo lên xe ngựa, tới chợ trả một đồng bạc. Vô chợ mua một xâu lòng bò cột sẵn giá ba đồng gồm lá sách, tim, gan, phổi và một bó cải ngọt một đồng, chị bán hàng cho thêm hai tép hành không tính tiền. Thế là buổi chiều, cả nhà có bữa cơm ngon miệng, "lòng bò xào cải ngọt" thua gì đi ăn cao lầu Đồng Khánh trong Quận Năm? Đừng chê nha, sau năm 1975 có lúc chỉ có "canh thầy hù" và "cải ngọt xào tóp mỡ" có đâu lòng bò mí lại lòng heo!
Tưởng cũng cần giải thích, tại sao gọi chợ Cầu Cống? Nguyên do là sát bên đó, rạch Cầu Chông từ sông Bến Nghé đâm ngang đường Bến Vân Đồn, sau khi quanh co trong những xóm nghèo, ra tới đường Tôn Đản, băng ngang một cái cống lớn xây bằng xi măng rồi tiếp tục chảy về vùng kho 11. Bên cạnh cống, có cây keo thân lớn xù xì, không biết trồng từ đời nào. Loai keo nầy cho trái màu xanh, lúc chín màu đỏ, ăn có vị ngọt, trẻ em rất thích. Thập niên 50, những chiếc ghe mía từ Cầu Ông Lãnh qua hoặc ghe chở nước uống, neo đậu tại miệng cống, bán hết mía, đổi hết nước mới về.
Ông bà ngày xưa, cứ "thấy mặt đặt tên", nào là Xóm Gà, chợ Cây Thị, chợ Cây Sa Sà, Xóm Lu rồi Cầu Ba Cẳng, chợ Cầu Cống thật dễ hiểu, dễ nhớ cũng rất thân thương!
Thời gian về sau, dân cư càng ngày càng phát triển đông đúc, nhà sàn lấn dần dòng chảy, rạch Cầu Chông chịu chung số phận với những con kinh nước đen của Sài Gòn và Gia Định. Nhất là sau ngày "phỏng dái" cho tới bây giờ, gần 100% kinh rạch nhỏ biến mất trên thực địa, hay chỉ còn trong ký ức của mấy ông già. Người ta thi nhau san lấp kinh rạch, ao hồ biến nó thành "mặt bằng" tính bằng vàng "cây" và đô la. Sự biến mất nầy cắt nghĩa tại sao thành phố mang tên “bác” năm sau ngập cao hơn năm trước!
Share từ bài viết của : Blogger Tư Thẳng











