Thursday, June 22, 2023

Petropolitics : Nga và Ukraine đánh nhau .. thật không ?

Petropolitic Các đường ống, nhà máy lọc dầu , trạm bơm  tại Ukraines: 

   Chiến tranh giữa Ukraine và Nga đã kéo dài hơn 100 ngày. Chưa biết khi nào sẽ kết thúc. Binh sĩ hai bên đều hy sinh vì quốc gia của mình; dân Ukraine lãnh mọi hậu quả của cuộc chiến tranh tàn khốc mà Phe gây chiến sắt máu, tàn bạo coi mạng sống dân thường như cỏ rác, theo đúng Chủ nghĩa Cộng Sản..

   Tổng thống Ukraine Zelensky và TT Nga Putin ‘chưa’ nói chuyện (?) nhưng đằng sau hậu trường Ukraine và Nga vẫn có đường dây trực tiếp liên hệ về buôn bán !

   Nga cung cấp cho Tây Âu lượng khí đốt đáp ứng 1/4 nhu cầu tiêu thụ và 80% việc xuất cảng khí đốt này đi qua lãnh thổ Ukraine trước khi đến các Quốc gia Âu chậu..

  Ngày 11 tháng 5 2022 : Ukraine đóng (khóa) một đường ống dẫn khí đốt thiên nhiên đưa từ Nga về Tây Âu , lấy lý do ống dẫn khí đốt thiên nhiên đi qua trạm bơm (compressor) này, nằm trong khu vực phía Đông Ukraine, nơi các lực lượng thân Nga đòi ly khai can thiệp vào hoạt động của trạm, thậm chí còn ‘ăn cắp  (siphoning ) gas ?

  Hub này, tại  Zaporizhzhia điều hành khoảng 1/3 lượng khí thiên nhiên của Nga, đi qua lãnh thổ Ukraine  để đến Tây Âu.

   Việc ‘khóa’ ống này.. có vẽ như ‘tượng trưng’ vì đa số gas, trước đó, đã được ‘chuyển’ qua đường ống khác.. vẫn trong lãnh thổ Ukraine ! (Gazprom.. công bố ngày hôm trước đó là lượng Khí đốt bán sang Tây Âu đã giảm 25%)

Tin mới hơn :

Chủ nhật 19 tháng 6, 2022 (Reuters)

   Công ty dầu khí Gazprom cho biết lượng khí đốt cung cấp cho Âu châu qua lãnh thổ Ukraine theo đường Sudzha gia tăng trong ngày Chủ Nhật  từ 41.4 triệu mét khối (mcm) ngày Thứ Bảy , lên 41.7 triều..

   Gazprom xin cung cấp khí đốt qua đường khác : Sokhranovka nhưng Ukraine từ chối

Pháo cứ bắn và..’đại bác cứ nã vào thành phố’,  nhưng quân Nga bắn quá dở nên bắn không trúng.. ống dẫn dầu và các trạm bơm dầu !

  RFI ngày 16 tháng Năm, 2022 có bài viết đáng chú ý : “Khí đốt : Nga-Ukraine, môi hở răng lạnh ?”. Bài báo còn viết tựa khá ..lạ (?) “Năng lượng, một lá bủa hộ mạng cho Ukraine”

Liên hệ ‘Môi hở răng lạnh’ thì có vẻ giống như câu Tổng Bí Thư Lê Duẩn từng nói về liên hệ giữa CSVN và Tàu.Nhưng khi ” Răng cắn vào môi” thì  chắc cũng như Tàu đánh Việt năm 1979 (?), rồi xâm lấn Trường Sa?. Môi sợ Răng lạnh nên.. không ‘hé môi’?

    ‘Bùa hộ mệnh’ thì chưa chắc vì Wall Street Journal (April 5,2022) lại viết ‘Putin’s Ukraine Invasion is about Energy and Natural Resources’.. thì Năng lượng lại là ‘tai ương’ cho Ukraine ?

Liên hệ Dầu khí giữa Nga-Ukraine :

  Ngược dòng lịch sử, xin thử xem lại các đường dẫn khí đốt thời Liên Bang Soviet , thời còn Khối Warsaw..

  Giai đoạn này, phần lớn khí đốt và dầu được khai thác tại Nga, lượng sản xuất tại các nước trong Liên bang Soviet không đáng kể. Đa số dầu sản xuất tại vùng phía Tây dãy Ural ; các ống dẫn dầu được xây dựng để đưa dầu về các nước trong khối Warsaw :

Các ống được đặt tên là Hệ thống dẫn dầu Hữu Nghị = Druzhba (Brotherhood)

ống dẫn dầu màu xanh lá cây ;  dẫn khí đốt màu cam

 Ống Druzhba (Nam) dẫn dầu thô từ Nga, đến các nhà máy lọc dầu tại Ukraine (Drohobych và Nadvorna), sau đó dẫn dầu đã tinh luyện đến Hungary, Slovak, Czech và các nước Balkans

  Ống Druzhba (Bắc) dẫn dầu về Balan và Đông Đức..

   Một nhánh lớn khác của Druzhba đưa dầu thô về các nhà máy lọc dầu lớn của Ukraine tại Kremenchug và Lisichansk, Kherson và Odessa . (Lisichansk, nằm trong  vùng Luhansk đã bị Nga kiểm soát từ 2014; Nga cũng chiếm Kherson khi bắt đầu cuộc xâm lược)

  Đường ống dẫn khí đốtchính cũng đi qua Ukraine, cung cấp khí đốt cho các quốc gia (giống như dầu hỏa ) và còn thêm Đức .Đường ống khí đốt phân nhánh về phía Nam rồi đi đến Romania, Bulgaria, Hy lạp và Ý..



  Sau khi Liên bang Soviet tan rã : Các quốc gia thuộc Liên bang trở thành độc lập có chủ quyền riêng và kiểm soát các đoạn đường ống chạy qua nước mình. và quan trọng nhất là  đánh thuế mãi lộ trên lượng  dầu khí Nga, khi vận chuyển ngang qua nước  của họ. Nga dĩ nhiên.. không hài lòng và tìm cách tránh trả tiền.. mãi lộ. Ukraine là nước hưởng lợi nhiều nhất vì dầu-khí của Nga.. chạy qua Ukraine nhiều nhất.

  Theo báo Liberation (Pháp) (12/04/2022) : mỗi năm nhờ cho thuê đường ống Ukraine thu về khoảng 1.3 tỷ USD , mỗi ngày Ukraine có 3.5 triệu USD và Nga thu những 400 triệu từ Tây Âu !

   Ukraine, học thêm các phương thức “đạo chích’ từ Nga, nên phần lớn dầu thô cũng như khí đốt của Nga, khi đi qua Ukraine, được Ukraine xài.. không cần trả tiền mua !

 Để chấm dứt ‘tình trạng’ này, Anh Hai Nga bắt đầu xây dựng các đường ống dẫn dầu và khí đốt mới , phần lớn, bên trong lãnh thổ Nga :

– Về đường ống dẫn dầu, Nga lập đường ống từ Samara chạy đến Tikhoretsk và sau đó đến Tuapse và Novorossysk ; Đường ống này tránh Ukraine , bọc khỏi Donbass .Tại phía Bắc, Nga cho xây Trạm cuối (terminal) xuất cảng dầu tại Primorsk và kết nối nơi này cùng đường ống BPS2 từ Yaroslava..

– Về khí đốt Nga cho xây đường ống South (stream) qua Thổ Nhĩ Kỳ đến Ý ; và các đường Nord Stream 1 và 2 chạy ngầm dưới Baltic , dẫn đến Đức (tránh đi qua các nước vùng Baltic. (Nord stream 2 bị Đức dẹp bỏ)

   Vấn đề ‘khúc mắc’ nhất là lượng dầu khí do Nga sản xuất lại chưa đủ để sử dụng hết năng suất các đường ống mới ( sau khi làm xong) !

– Nếu dùng hết năng suất đường ống BPS2 , thì sẽ phải giảm năng suất của đường ống Druzhba (Nam).

– Cũng tương tự : khai thác tối đa Nord stream 2 sẽ giảm bên đường ống Yamal (ua lạnh thổ Belarus và Ba Lan)

    Khi vận chuyển dầu-khí Nga qua các đường ống mới : Ukraine sẽ bị cô lập và có thể bị cắt đứt mọi nguồn năng lượng cần thiết cho chính Ukraine.

    Kế hoạch chống đỡ của Ukraine là.. hợp tác với Tài phiệt Dầu Khí Mỹ  lập đường ống Odessa-Brody để đưa dầu khí đến Ukraine.. không qua Nga ..

   (Xin bàn về kế hoạch ‘đánh xập’ kỹ nghệ dầu khí Nga của Tư bản dầu khí Mỹ trong một bài Petropolitics khác..)

   Đường ống Brody-Odessa đã nằm trong kế hoạch ‘bảo vệ’  ‘lợi ích Mỹ’ từ 2004 !

Trong giai đoạn ‘trò chơi petropolitics.. kiểu Mỹ này : Nga đã phản ứng bằng ‘hứa hẹn’

– Đừng làm đường ống Odessa-Brody.. Nga sẽ chi 100 triệu USD bảo trì đường BPS2 và ‘bảo đảm’ sẽ đưa mỗi năm ít nhất 9 triệu tấn dầu thô qua.. ống.

  Trong tình hình hiện nay, ước mơ của Ukraine là..Tây Âu sẽ đóng đường ống Nord Stream 1, nhưng vẫn mua khí đốt của Nga, để lượng khí đốt chạy qua Ukraine nhiều hơn.. tiền mãi lộ tăng và pháo Nga tiếp tục bắn không trúng..

   Tài phiệt Dầu hỏa Âu -Mỹ sẽ bảo vệ Odessa (đưa phi đạn Harpoon đến) và đường ống Odessa-Brody sẽ là một ‘mắt xích’ trong kế hoạch.. phá công nghiệp dầu khí Nga ?

Trần Lý 19 tháng 6, 2022

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển.

Những trận đánh cuối cùng: Huấn khu Long Thành Những trận đánh cuối cùng.

Trận đánh diệt chiếc T-54 này được một SVSQ thuộc Tiểu đoàn Không quân ghi lại trong bài ‘Cổng số 9 Trường BB Ngày 30 tháng 4 năm 1975’ trên Diễn đàn Phi Dũng 

Trường Bộ Binh là một quân trường chuyên đào tạo các sĩ quan trừ bị cho Quân lực VNCH. Trước 1974, Trường tọa lạc tại Thủ Đức, và từ đầu năm 1974 được dời về Long Thành, một cơ sở mơi nằm bên cạnh Quốc lộ 15 (Từ SàiGòn đi Vũng Tàu) cách Quận lỵ Long Thành khoảng 5 km. Tại đây, Trường BB kết hợp với Trường Thiết Giáp và Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế của LLĐB (nơi huấn luyện Biệt Kích) để lập thành Huấn khu Long Thành. (Trường Thiết giáp đặt tại Căn cứ Bearcat cũ , nơi trú đóng của Lực lượng Thái Lan khi tham chiến tại VN)

Chỉ huy trưởng Trường BB kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng Huấn khu.Từ tháng 4/75 Đại tá Trần Đức Minh là chỉ huy trường Huấn Khu .
Trường Võ Bị Đà Lạt, sau khi di tản (ngày 30 tháng 3 năm 1975) qua ngã Sông Pha, Phan Rang, Bình Tuy và được chuyển vận bằng C-130về SàiGòn , sau đó được tạm trú tại Trường BB Long Thành và đã cho ra trường tại đây 2 khóa 28 và 29, còn lại các SVSQ thuộc các khóa 30 và 31.Kế hoạch tấn công của CSBV :Hướng Tây-Nam của cuộc tấn công vào Sài Gòn của CSBV được giao cho Quân đoàn 2 BV. Lực lượng QĐ này gồm :
Các SĐ BB CSBV 325 và 304
Lữ đoàn Pháo binh 164
Lữ đoàn xe tăng và thiết giáp 203
Sư đoàn phòng không 673
Lữ đoàn công binh 219
Trung đoàn đặc công 116.
Lực lượng này có khoảng 54 xe tăng, 35 thiết giáp, 223 xe kéo pháo; 87 khẩu 130 mm và 105 mm; 136 khẩu cao xạ..
Tổng số quân lên đến 40 ngàn..do Tướng BV Nguyễn Hữu An chỉ huy và Tướng Lê Linh làm Chính Ủy.
Kế hoạch dự trù tấn công trên mặt trận chính bề ngang khoảng 80 km. Các mục tiêu chính gồm Huấn khu Long Thành (BV gọi là Căn cứ Nước Trong), Chi khu Long Thành, Chi khu Nhơn Trạch để sau đó tiến 2 ngả một về Sài gòn và một về Vũng Tàu..Kế hoạch phòng thủ của QL VNCH :

Để đối phó với hướng tấn công này (VNCH xem là Đông-Bắc của SàiGòn) , QL VNCH chỉ huy động được những lực lượng còn lại của SĐ 18 BB (còn 2 Chiến đoàn), Lực lượng Xung Kich QĐ 3, riêng Lữ đoàn 1 Dù được giao nhiệm vụ giữ Bà-Rîa-Vũng Tàu.. thay vào đó là LĐ 258 TQLC.Tư lệnh chiến trường là Tướng Nguyễn văn Toàn (Tư lệnh QĐ III VNCH) cùng các Tướng Lê minh Đảo (Tư lệnh SĐ 18), Tướng Trần Quang Khôi (Tư lệh Lực lượng Xung Kích)
Các lực lượng cơ hữu của Huấn khu Long Thành, gồm quân số cơ hữu và các SVSQ đang thụ huấn tại các Trường Bộ Binh, Trường Thiết giáp và Trung Tâm Huấn luyện Biệt Kích Yên thế..
Vào đầu tháng 4 năm 1975, Trường BB có khoảng 4000 Sinh viên Sĩ quan Trừ bị thuộc các khóa gối đầu nhau ; ngoài ra vào cuối năm 1974, Trường tiếp nhận khoảng 1000 quân nhân thuộc Quân chủng Không Quân đang theo học các ngành tại HK phải về nước do cắt giảm viện trợ. Ngoài ra còn có các lớp Sĩ quan Khóa sinh gồm chừng 500 người. Số SVSQ Võ Bị Đà Lạt và quân nhân cơ hữu của Trường Võ bị khoảng 500 người
– Huấn khu Long Thành được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Trần Đức Minh (quyền Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh thay thế Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi từ tháng 4-1975).
– Trường Thiết giáp do Đại tá Huỳnh văn Tám chỉ huy..
– Về quân số cơ hữu của Trường Bộ Binh :
– Ngày 22 tháng 4, 1975, môt nửa quân số thuộc các đơn vị của Trường BB củng với những đơn vị thuộc các Trường Võ Bị QG Đà Lạt (từ Đà Lạt di tản về) , được lệnh rút về Huấn Khu Thủ Đức (Tfường BB Thủ Đức cũ). Một nửa quân số ỏ lại để phòng thủ Trường, lực lượng này do Đ/tá Lê văn Phú Tham mưu trưởng Huấn Khu chỉ huy. Trong lúc này, Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng cục trưởng TC Quân Huấn chỉ định Đ/tá Lộ công Danh, Liên đoàn trưởng LĐ Sinh viên SQ Trường BB làm Quyền Chĩ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt thay thế Tướng Lâm Quang Thơ.
Lực lượng Địa phương quân và Nghĩa Quân của Chi Khu Long Thành dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hà văn Sáu, Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng.
Những diễn biến tại Khu vực trong tháng 4/1974 :
Từ đầu tháng 4/75, CQ đã mở những cuộc tấn công thăm dò vào Khu vực Huấn khu Long Thành, dùng đặc công xâm nhập vào các Trường Thiết giáp và Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế nhưng bị đẩy lui sau khi chịu nhiều tổn thất.
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, QĐ III VNCH được tăng phái Lữ đoàn 468 TQLC, TĐ 8 TQLC được giao nhiệm vụ đóng tại Long Thành để ngăn chặc địch quân từ hướng Long Khánh, giữ an ninh ngoại vi cho các Căn cứ Long Bình và Bộ Tư lệnh QĐ (Biên Hòa).
Ngày 10 tháng 4 : QĐ III được tăng phái thêm Lữ đoàn 4 Dù. LĐ này được giao trách nhiệm bảo vệ các khu vực Tam Hiệp-Biên Hòa-Long Thành..
Ngày 21 tháng 4 : VNCH rút khỏi Long Khánh từ chiều 20/4 và về đến địa điểm tập trung tại Đức Thạnh (Phước Tuy) vào chiều 22/4. Liên tỉnh lộ 2 được chọn làm lộ trình rút quân, dài khoảng 40 km từ Tân Phong, qua Đức Thành, Long Lễ. Cuộc rút quân được xem là thành công, bảo toàn lực lượng. LĐ 1 Dù được giao nhiệm vụ bảo vệ Quốc lộ 15 , từ Long Thành đến Bà Rîa. SĐ 18 và các đơn vị tăng phái di chuyển vầ Căn cứ Long Bình.

Diễn tiến trận đánh :

7 giò sáng ngày 26 tháng 4, Cộng quân bắt đầu tấn công thăm dò bằng các đơn vị trinh sát của SĐ 304 CSBV. Những cuộc chạm súng nhỏ diễn ra vơi các đơn vị tiền đồn của Huấn khu Long Thành..
Chiến đoàn 322 / LLXK QĐ III VNCH được lệnh di chuyển về Long Thành để tiếp cứu. Chiến đoàn 322 được tăng cường thêm một TĐ TQLC tiến theo QL 15 và đụng nặng với CQ trong khu vực rừng cao su, tại Dốc 47, bắn hạ 12 chiến xa BV (Tướng Trần Quang Khôi trong Danh Dự và Tổ Quốc)
5 giờ chiều 26/4 , trận tấn công chinh thức bắt đầu bằng cuộc pháo kích dữ dội của Cộng quân..sau đó SĐ 325 CSBV dùng bộ binh cùng sự yểm trợ của xe tăng đồng loạt tấn công vào các cứ điểm phòng thủ của Huấn khu nhưng không vượt nổi hàng rào phòng ngự kiên cố của Trường Bộ Binh. Riêng Trường Thiết giáp và TT Huấn luyện Yên Thế bị mất liên lạc sau đó. Quận Long Thành cũng bị tấn công, nhưng giữ vững vị trí trong đêm. Đ/tá Huỳnh văn Tám, Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp bị mất tích từ chiều tối 26/4 sau khi lọt vào ổ phục kich của CQ trên đường trở về sau cuộc họp bên Trường BB. Tài liệu CSBV ghi lại : Trong trận tấn công vào Trường Thiết giáp , CQ chỉ hoàn toàn lảm chủ vào chiều 29/4 vơi sự thiệt hại gần 200 quân..

Sáng 27 tháng 4 : CSBV dùng SĐ 325 tấn công vào sườn trái của vòng đai phòng thủ Huấn khu đồng thời SĐ 304 tấn công vào hướng chinh diện. Các mũi tấn công này đều có xe tăng và pháo yểm trợ.
Cũng từ 5 giờ chiều CQ dùng Trung đoàn 101 (SĐ 325 CSBV) tấn công Quận lỵ Long Thành, dùng Tr/Đ 46/325 tiến vòng để chiếm Ngã ba Phước Thiền và Tr/Đ 18/325 bao vây Bỉm Sơn. Tất cả các cứ điểm trên đều do ĐPQ và Nghĩa quân Long Thành chống giữ.
Một lực lượng khoảng 2 ĐĐ /TĐ 1-TQLC cũng hoạt động trong khu vực Ngã ba QL15 và Liên tỉnh lộ 10 (gần đầu dốc 47). Tại chốt phòng thủ này, LL TQLC có 2 M-48 yểm trợ đã chống trả cuộc tấn công của CQ cho đến chiều 28/4 mới bị tràn ngập..

Theo Vũ Trọng Hóa, TM trưởng của Tr/Đ 18/ SĐ 325 CSBV thì CQ mở đầu cuộc tấn công bằng một cuộc pháo kích dữ dội gần 700 đạn pháo bắn vào Chi khu Long Thành trong vòng nửa giờ : Loạt đạn đầu bắn phá khu vực Cầu Xéo và loạt thứ nhì vào Quận đường và khu vực đặt 2 đại bác 105 ly của Quận. Bộ binh có xe tăng yểm trợ đồng loạt tấn công. Chi khu Long Thành phản ứng bằng pháo yểm trợ từ Bến Sắn và Phước Hòa..tuy nhiên sau đó CSBV đã tập trung pháo binh, bắn trên 2000 quả đạn vào các điểm đặt pháo của VNCH.. Sáu giờ chiều, xe tăng CSBV (thuộc Lữ đoàn 203/325) tiến vào đường Nguyễn An Ninh Long Thành nhưng bị chặn tại đây. Lực lượng địa phương VNCH, luồn theo các ngõ hẻm để tập kích. Trận đánh kéo dài đến 10 giờ đêm, CSBV tiến chiếm các tiền dồn quanh Thị xã như Cầu Quán thủ, Ngã ba Cầu xéo, Liên Kim sơn, các chốt Cầu đen, Bàu cá..Địa phương quân Long Thành bắn cháy nhiều xe tăng của CSBV (trong đó một chiếc ngay tại cổng chích dinh quận, một chiếc khác bên chi khu..)..Trung Tá Hà văn Sáu rút ra bên ngoài, xin chi viện từ Tiểu khu Biên Hòa nhưng không được đáp ứng và vẫn tiếp tục chiến đấu đơn độc chống trả lực lượng CQ. Mãi đến 4 giờ 30 chiều ngày 27, CSBV mới chiếm được khu vực Quận Long Thành.
Lực lượng còn lại của Chi Khu rút về Ấp Thái Lạc và cố thủ tại đây đến chiều 28 tháng 4..(Vũ Trọng Hóa ghi lại cuộc kháng cự tại Ấp Thái lạc gậy thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 1/ Trung đoàn101 CQ, trong đó gần 100 cán binh bị hạ kể cả Tiểu đoàn trưởng CQ Nguyễn Ánh Dương )..
Đêm 27 tháng 4 , Cộng quân tập trung lực lượng quyết thanh toán Trường BB. Sáng 28, trước tình hình nguy ngập do lực lượng quá đông của quân CSBV, Đ/tá Lê văn Phú quyết định rút quân và lực lượng còn lại lui về Huấn Khu Thủ Đức..
Tài liệu của CSBV ghi lại : Trong ngày 27 tháng 4, SĐ 5 KQVNCH dùng 115 phi vụ để oanh kích vào đội hình của Cộng quân và bị hạ đến 2 F-5, 4 A-37, 3 Skyraider A-1 và 1 UH-1 A. Phôi kiểm vơi các phi công KQ VNCH thì không ai biết gì về con số phi vụ cũng như con số phi cơ bị hạ ?

(Về phần Skyraider A-1. Đại úy Trần văn Phúc, người bay những phi vụ A-1 cuối cùng trên không phận Sài Gòn cho biết : ‘Sau 6 tháng đình động 2 Phi đoàn A-1 được lệnh bay lại, trưa ngày 3 tháng 4, 1975 các phi công PĐ 518 bắt đầu bay ‘quen tay’ và đến 5 tháng 4 được biệt phái xuống Cần Thơ, sau đó 19 tháng 4 trờ lại Biên Hòa..Ông cho biết hầu như không còn sự phối hợp giữa KQ và BB như trước : trong nhiều phi vụ tuy bay bao vùng tại Long Khánh , Ông phải tự tìm ‘mục tiêu’ (?) và tùy nghi thả bom..vào những vùng khả nghi có tập trung quân của CSBV Trong ngày 27 tháng 4, các phi vụ của Đ/u Phúc và các phi công khác bay trên vùng trời Long Bình nhưng không được sử dụng ? Chiếc A-1 sau cùng bị bắn hạ là chiếc do Th/tá Trương Phùng bay ngày 29 tháng 4 trên không phận Sài Gòn)
Các F-5 hầu như ..không còn hoạt động hành quân vảo giai đoạn cuối cùng này..Một số phi vụ A-37 được điều hành từ Cần Thơ. Một lý do được giải thich là ‘BV đã sử dụng hỏa tiễn tầm nhiệt Strella và súng phòng có radar điều khiển nên F-5 và A-37 không thể cất cánh oanh tạc được’ (Hà Mai Việt trong Thép và Máu , trang 204)
Không có những ghi nhận chính thức về hoạt động của các trực thăng võ trang. Riêng trong bài Những ngày cuối trên đất Đồng Nai, Phó Tĩnh trưởng Biên Hòa Nguyễn Nhơn ghi lại :’ Sáng 28/4 từ văn phòng nhìn về phía núi Châu Thới, chiếc trực thăng đang quần đảo, phóng rocket ì ầm, yểm trợ lực lượng dù (?) đánh dẹp chốt đặc công VC ở chân núi’
Đ/u Nguyễn văn Việt TĐ 46 Pháo Binh (theo CĐ 322/LLXK) ghi lại trong trận đụng độ ỡ Dốc 47 : ‘ Gần trưa, một chiếc phản lực bay qua đầu chúng tôi, rồi nhào xuống thả một trái bom, rơi trúng phia bên kia đường cách bộ CH Chiến đoàn khoảng 200m..’
(Nguyễn văn Việt trong Pháo thủ 46 kể chuyện cũ)

Một sĩ quan thuộc TĐ 1/ TQLC kể lại : ‘..vì áp lực mạnh của cánh quân CSBV từ Bình Tuy băng qua, KQ ta yểm trợ bằng các phi tuần A-37 dội bom xuống mặt trận..Một trái bom đã rơi vào làn ranh của hai bên..’ (Tháng 4 ra trường..)
Trường hợp TĐ 82 BĐQ, được Th/tá Vương Mộng Long TĐT ghi lại trong Hồi Ký, Tháng Tư lại về :’ Ngày 28 tháng 4, TĐ đang nghỉ dưỡng quân tại Long Bình thì được lệnh vào vùng hành quân tại phía sau Trường BB Long Thành..Quân số do đi phép và tập trung bất ngờ nên chỉ còn 161 người lên đường với nhiệm vụ ngăn chặn địch từ hướng Bắc tiến về. TĐ đóng quân tại một ngọn đòi nhỏ là ‘một tiền đồn cũ, có 3 lô cốt nhỏ, không hầm hố địa đạo, không hàng rào..nên chỉ chất những viên đá tổ ong thành một chiến lũy cấp thời..’ Ngay tối 28, CQ huy động lực lượng BB có xe tăng yểm trợ, dùng xe chiếu sáng chiến trường để tấn công.
Sau 3 đợt tấn công dữ dội, và 6-7 tăng bị bắn cháy..CQ đã tràn ngập vị trí phòng thủ của TĐ 82 BĐQ. TĐ hết M-72, lựu đạn và chiên đãu đơn độc không có phi-pháo yễm trợ..Còn lại 107 người, tìm đường rút về Căn cứ Long Bình qua ngã Hố Nai (Biên Hòa) Cuộc rút lui bi thảm này, vượt các ổ phục kích và pháo của Cộng quân để cuối cùng chỉ còn lại 67 người. và tan hàng tại Cầu hang vào sáng 30 tháng 4..
Tuyến phòng thủ Huấn Khu Long Thành được xem là bỏ ngỏ từ ngày 29/ 4. CQ tiến về SàiGòn..nhưng vẫn gặp sự kháng cự của những đơn vị còn lại của QL VNCH . Những trận đánh cuối cùng tiếp diễn dù không còn ‘Đại bàng’…như các trận Cầu Rạch chiếc, trận Huấn khu Thủ Đức..
Trần Lý (Tháng 5-2013)
Ghi thêm :

Đại úy Phúc (Phi Long 51) cho biết thêm một số chi tiết về A-1 trong bài như sau :
‘Sau khi trở về Biên Hòa ngày 19 tháng 4 năm 1975, Chúng tôi không còn bay yểm trợ tiếp cận (Close Air Support) cho quân bạn mà phải bay bao vùng hàng nhiều giờ rồi được các phi cơ quan sát (L-19) chỉ điểm oanh tạc những vùng nghi ngờ đóng quân của CSBV.
Chỉ riêng ngày 27/4/1975 vào khoảng 2 giờ trưa, Tôi cùng Đ/úy Trần Công Quận bay bao vùng ở Long Khánh, vì không có phi cơ quan sát, tôi phải tự tìm mục tiêu và oanh tạc đoàn xe công voa đang di chuyển từ Bắc xuống Nam ở Trảng Bom.
Bây giờ tôi mơi hiểu lý do tại sao chúng tôi bị bắn bởi hang rào phòng không dày đặc, chỉ cách phi cơ tôi vài mươi mét tại Long bình ở cao độ 5000 bộ..
Chúng đặt hơn 30 khẩu phòng không (có radar hướng dẫn) từ 23 ly, 37 ly và 57 ly rải rác khắp vùng Long Khánh để bảo vệ các cánh quân BB tiến chiếm Huấn khu Long Thành. Rất tiếc chung tôi hoàn toàn không hay biết, thật quá phí số bom này và tôi xin thành thật xin lỗi Toàn thể Chiến hữu tại Huấn khu Long Thành..
(Điện thư trao đổi giữa Đ/ú Phúc và Tác giả ngày 20/5/1975)

***

Những trận đánh cuối cùng Huấn khu Thủ Đức 30 tháng 4 năm 1975.

Bài ‘Trận đánh không có đại bàng tại Huấn Khu Thủ Đức ngày 30/4/1975’, trong tập sách ‘Những trận đánh không tên trong Quân sử’ (Tập 2), ở Chương 8 (trang105-119) đã được Nhà văn Hải Triều viết và dựng lại theo lời kể của các Đại úy Thảo của Trường Quân Báo và Đại úy Trần văn Trung của Trường Tổng Quản trị, được ghi là có mặt và tham dự trực tiếp vào trận đánh.. Tuy nhiên, do được’dựng lại’ nên một số chi tiết chưa thật sự chinh xác Diễn tiến trận đánh xin được viết lại dưới đây , tổng hợp từ các bài phỏng vấn Đại tá Phạm đức Minh, Chĩ huy trưởng Huấn khu Long Thành, người đã ở lại cuối cùng và đã tủi hờn bàn giao Huấn khu cho CSBV ( bài ‘ Trường Mẹ, Bạn, Anh em, và..’ của Tác giả Băng Đình phỏng vấn Đ/tá Minh phổ biên trên Tuần san Chính Luận, Seattle, 2005. Đại tá Minh mất tại Kirland. TB Washington tháng 11-2009)..Ngoài ra một số chi tiết được trich từ bài ‘Những ngày cuối cùng của Trường Bộ binh’ của Tác giả Nguyễn ngọc Thạch, Trưởng Phòng Kế hoạch của Trường BB lấy từ trang mạng Batkhuat.net
Tình hình Huấn Khu Thủ Đức trong những ngày cuối cùng :

Từ khi Trường BB chuyển ra Long Thành, Tổng cục Quân huấn đã tổ chức Huấn khu Thủ Đức gồm một số Trường như Trường Tổng Quản trị, Trường Hành Chánh tài chánh, Trường Quân Báo, Trường Quân Nhu, Trường Quân cụ, Trường Quân nhạc, Trường Vũ thuật Thể Dục..Trong những ngày cuối cùng Chỉ huy trưởng Huấn Khu Thủ Đức là Đại tá Trần văn Tự
Sau ngày TT Thiệu từ chức (21 tháng 4), toàn thể Sinh viên sĩ quan Trường BB (Long Thành) và SVSQ Võ Bị Đà Lạt, dưới quyền Đ/tá Minh đã được di chuyển về Thủ Đức (Xem bài Trận Huấn Khu Long Thành). Khi về Thủ Đức, theo sự thỏa thuận giữa Đ/tá Minh và Đ/t Tự, lực lượng HK Long Thành chịu trách nhiệm phòng thủ, bảo vệ HK Thủ Đức, còn lực lượng cơ hữu của Thủ Đức phụ trách chống đặc công trong phạm vi Trường..
Chiều tối 27 tháng 4, các lực lượng còn lại của Trường BB Long Thành, sau khi chống trả cuộc tấn công của SĐ 325 CSBV trong suốt 2 ngày 26 và 27, đã phải rút về Thủ Đức..
Sau khi mọi thành phần của Trường BB từ Long Thành về đến Thủ Đức . Tổng cộng quân số tại Thủ Đức lên khoảng 6000 người gồm SVSQ và quân nhân cơ hữu (Một số bài viết, kể cả bài phỏng vấn Đ/t Minh ghi lại, cho rằng Trường ĐH Chiến Trị Đà Lạt sau khi di tản cũng về Huấn Khu Long thành và Thủ Đức, nhưng trên thực tế Trường ĐH CTCT được đưa về hậu cứ của TĐ 30 CTCT tại Biên Hòa và sau đó từ Biên Hòa rút về hậu cứ TĐ 50 CTCT) .
Ngay từ hạ tuần tháng 4, khi nhận lệnh từ Tổng Cục Quân Huấn chuẩn bị làm nhiệm vụ phòng thủ Sài gòn, Trường BB đã cấp tốc tổ chức các đơn vị tác chiến : Các sĩ quan huấn luyện viên được đưa xuống các Tiểu đoàn SVSQ làm Trung đội trưởng, các ban Tham mưu TĐ và LĐ được thành lập. Nói chung có 2 Liên đoàn tác chiến, mỗi LĐ khoảng 2500 người.
Trang bị không hoàn chỉnh, các võ khí cá nhân và cộng đồng như M-16, đại liên M-60, cối 81, do rút từ huấn luyện nên tạm đủ, phần M-79 và súng chống tăng M-72 tương đối it. Về Pháo binh có một Trung đội 105 rút từ Long Thành về, cùng với 4 khẩu 175 không rỏ của đơn vị nào từ Long Khánh chạy về Huấn khu Thủ Đức..(trong lực lượng rút về từ Long Thành còn có một số quân nhân di tản từ Trường Pháo binh Dục Mỹ, Nha Trang)

Tại Thủ Đức, lực lượng của Trường BB được bố tri thành ba tuyến :
Tuyến tiền đồn do Khối Yểm trợ công vụ của Trường trấn giữ các điểm ngoại vi.
Tuyến ngoài hàng rào chung quanh Trường do một Liên đoàn SV phòng thủ.
Tuyến trong do một LĐ SV khác trấn giữ.
Trừ bị là một Tiểu đoàn SV, trích từ tuyến trong và ĐĐ 966 Địa phương Quân của Tiểu khu Gia Định biệt phái dài hạn cho Huấn khu Thủ Đức dể lo an ninh bãi tập. (SVSQ Võ Bị Đà lạt thuộc thành phần trừ bị này)

Theo Đ/tá Minh, mối lo ngại nhất là thiếu võ khí chống tank và tập trung quân trú phòng trong một diện tích tương đối hẹp khó tránh thiệt hại khi bị CQ pháo kích..
Đ/tá cũng cho biết :
‘Về phương diện quân sự, khi còn ở Long Thành, Trường BB nằm dưới sự yểm trợ trực tiếp của Bộ Tự Lệnh QĐ III. Khi di chuyển về Thủ Đức lại trực thuộc thuộc Biệt Khu Thủ Đô. Nhưng từ cuối tháng 4, hệ thống chỉ huy đã rất..lỏng lẻo..’
‘Những ngày cuói tháng 4, Trường BB hoàn toàn bị cô lập, không hề nhận được bất cứ lệnh lạc nào từ Quân Đoàn III cũng như từ Biệt Khu TĐ. Cho đến ngày 28/4 chỉ liên lạc độc nhất được với Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng cục trưởng TC Quân Huấn để nhận những chỉ thị ‘khich lệ’ tinh thần..?’

Sáng 29 tháng 4, Trường BB Thủ Đức hoàn toàn mất liên lạc vơi..bên ngoài (Đây là thời điểm..tự tan rã của Bộ TTM QL VNCH, xin xem bài SàiGòn ngày 29 của Trần Ly. Tư lệnh QĐ III, Tương Toàn sau khi ra lệnh cho Tường Khôi trụ lại, đã bay ra Hạm đội Mỹ. Bộ Tư lệnh QĐ III không còn..khả năng chiến đãu..chỉ còn LLXK của Tướng Khôi..Tư lệnh BKTĐ, Tướng Minh.cũng..di tản.)..

Trận đánh cuối cùng : 30 tháng 4 năm 1975

Sáng 30 tháng 4, CSBV từ Nhơn Trạch bắt đầu pháo kích lác đác vào Trường BB Thủ Đức..
(Quân đoàn 2 CSBV sau khi thanh toán tuyến phòng thủ Long Thành chiều ngày 28/4 , tập trung lực lượng để tiến thẳng về SàiGòn qua hướng cầu Đồng Nai nhưng bị giữ chân tại đây trong suốt ngày 29, Trường BB Thủ Đức không còn là mục tiêu chiến luợc hay chiến thuật gì nữa..Phào CQ chỉ nhằm mục đích..bắn quấy rối)
Khoảng 8 giờ 30 sáng, Đại úy Hiếu TĐT TĐ 5/SVSQ, phụ trách phòng thủ vòng đai Trường phía xa lộ báo cáo thấy đoàn xe CQ di chuyển trên xa lộ về hướng Sài Gòn. Trung tâm Hành quân của Trường điện thoại cấp báo về Biệt Khu Thủ Đô, nhưng..không còn ai bên Biệt Khu trả lời (?)..Đ/tá Minh quyết định dùng mọi cỡ pháo binh khả dụng của Trường (gồm các pháo đội từ các nơi tạm gửi tại đây) bắn chận về hướng Đông khoảng giữa cầu Đồng Nai và Nghĩa Trang Quân đội. Pháo binh CSBV cũng phản pháo và gửi một đơn vị Thiết giáp về tiến công Thủ Đức..
Đài quan sát đặt trên tháp nước câp báo xe tăng CSBV xuất hiện tại khu Nhà máy lọc nước tại Ngã Tư Thủ Đức và tiến về Trường theo hướng Chợ Nhỏ .
Một chiếc T-54 đơn độc chạy thẳng vào Cổng chính, ủi sập các chướng ngại vật, chạy thẳng vào trong nội vi trường, vừa chạy vừa bắn loạn xạ..Trong khi đó, một ổ đại liên của CQ bắn yểm trợ từ cầu Bến Nọc bao phủ khu vực Cổng số 9.
Lực lượng trú phòng dùng đủ mọi loại súng bắn vào chiếc xe tăng CQ nhưng không chặn được..Chiếc tăng dùng đại bác bắn xập Trung tâm Hành quân (dễ nhận do nhiều cột ăng-ten). Thiếu tá Làu, thuộc Trường Tổng Quản tri, may mắn, thoát nạn..Bộ Chỉ huy nhẹ của Trường đang đóng tại Tư dinh CHT gần đó bên ngoải nên còn hoạt động được nhưng giới hạn. Liên lạc với các Trường khác kể như gián đoạn..
Chiếc T-54 sau đó từ Vũ Đình Trường quay chạy về hướng Cổng số 9, nhưng gặp sức kháng cự của các SVSQ nên lại quay đầu và vẫn bắn loạn..tiếp tục gây một số thương vong trong đó có Th/tá Vương bá Thuận gẫy chân, Tr/tá Ông nguyễn Tuyền (thuộc Văn phòng Phụ tá Kiểm huấn Trường BB) bị tử thương.. Đủ loại súng nhỏ tập trung vào chiêc tăng..và hầu như vô hiệu. Sau cùng Đ/úy Ngữ ĐĐ trưởng ĐĐ 663 (?) ĐPQ đã dùng M-72 để bắn đứt xích chiếc tăng này nơi gần Miếu Tiên sư. Tuy nằm tại chỗ nhưng súng trên pháo tháp vẫn quay bắn lung tung. Liền đó một SVSQ thuộc Tiểu đoàn 1 SVSQ , TĐ cùa SVSQ Không Quân gởi sang học Quân sự, đang ở phòng tuyến gần đó đã bò ra, leo lên pháo tháp và thả một quả lựu đạn vào bên trong..Chiếc T-54 bị tiêu diệt hẳn..(Sau này phối kiểm lại được biết đây là một SVSQ thuộc ĐĐ 2 SVKQ). Lục soát trong xe, lực lượng trú phòng thu được 3 võ khí cá nhân..


(Trận đánh diệt chiếc T-54 này được một SVSQ thuộc Tiểu đoàn Không quân ghi lại trong bài ‘Cổng số 9 Trường BB Ngày 30 tháng 4 năm 1975’ trên Diễn đàn Phi Dũng như sau :

‘Đọc bài ‘Trận đánh không có Đại bàng’ cùng ký tên của ba người là Lê Nguyễn, Trần văn Trung và Hải Triều, đọc xong tôi nhận thấy cần phải bổ túc thêm cho chinh xác, vì khóa 73F của chúng ta và một số it SVSQ/KQ khóa khác là quân chủ lực của Trường Thủ Đức trong ngày 30 tháng 4, 1975..
Tiểu đoàn Không Quân của Trườg BB Long Thành gồm những SVSQ từ khắp nơi quy tụ về : từ những người đang học bay bên Mỹ, những người đã đậu Anh ngữ đang chờ đi Mỹ, những người ở Nha Trang..đều chung số phận do cắt giảm ngân sách quân viện. TĐ KQ được thành lập tại Long thành vào đầu năm 1974.
Giai đoạn thụ huấn của SVSQ Trừ bị Thủ Đức là 9 tháng, nên trong vài ngày cuối của cuộc chiến, các khóa khác đã ra Trường, còn lại KQ là khóa sinh kỳ cựu..tinh từ ngày nhập ngũ, các khóa sinh KQ..ai cũng gần hoặc hơn 3 tuổi linh..
Di tản từ Long Thành về Thủ Đức ngày 28 tháng 4, SVSQ Không Quân được giao nhiệm vụ làm kháng tuyến chinh án ngữ 4 mặt của Quân trường, được trang bị hỏa lực tối đa ngoài cấp số..Tất cả các đơn vị khác, vì là khách nên được nằm bên trong, gọi là kháng tuyến phụ..
..Dưới quyền Đ/ú Thu, ĐĐT và Tr/ú Triều Tr/Đội trưởng, ĐĐ4 , mang khăn quàng màu vàng đóng quân ngay Cổng số 9 của Quân trường Thủ Đức..Tại cổng số 9, phía trước có những thùng phuy làm rào cản, dọc theo tuyến có hàng rào kẽm gai và ngoài lơp rào là một hệ thông giao thông hào rộng và sâu để cản chiến xa.. Hướng phải của Cổng số 9, khoảng 150 m có một lô cốt xây bằng xi măng lớn có nhiều lỗ châu mai..Tuần sự ĐĐ khăn vàng nằm tại đây, có máy truyền tin và súng ông, đạn dược dự trữ đủ loại
ĐĐ 4 canh gác nghiêm ngặt và hầu như không ngủ được trong suốt đêm 29..
Sáng 30..bỗng nhiên nhiều tiếng la hốt hoảng ‘xe tăng, xe tăng’, không thấy gì nhưng súng đạn nổ dòn tan dọc theo tuyến của Cổng số 9, một chiếc T-54 nòng súng phun ra lửa khói, tiếng đạn rít ngang đầu..Lửa đủ màu bay quanh chiếc tank mà nó cứ tiếp tục lăn bánh gần sát giao thông hào, những ngọn lửa của M-72 che khuất chiếc xe cùng theo những tiếng ‘cháy rồi, cháy rồi’ inh òi, lửa tắt, bánh xe vẫn còn lăn, nhiều ngọn lửa khác tiếp tục, nòng đại bác của tank vẫn tiếp tục bắn..
Chiếc tank bị cản bởi giao thông hào nên sau đó thụt lùi và chạy về hường cổng số 1, để bị hạ tại đây..
Khoảng 10 giờ 20 lệnh đầu hàng và bàn giao do TT Dương văn Minh tuyên bố đã chấm dứt cuộc kháng cự tại Huấn Khu Thủ Đức. Đ/tá Minh đã buộc bàn giao Huấn Khu Thủ Đức cho Đại diện Quân BV và sau đó bị tạm giữ trên lầu Tư dinh CHT.Các SVSQ và Quân nhân cơ hữu của Huấn Khu thay đồ dân sự và tự động tan hàng..

Trong bài ‘ Trường Mẹ, Bạn, Anh em, Và..’ theo Tác giả Băng Đình, Đại Tá Minh xin gửi những lời sau :
‘Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các quân nhân và Sinh viên sĩ quan của Trường Bộ binh cũng như các Quân trường, tái phối trí đã cùng tôi chiến đấu đến phút chót tại ngọn đòi Tăng Nhơn Phú vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 để bảo vệ Tổ Quốc cũng như thanh danh của Quân Trường.
Tôi cũng xin kính cẩn tưởng niệm hương hồn các quân nhân của Trường BB đã hy sinh vào giờ phút sau cùng của cuộc chiến tranh chồng chất oan khiên suốt mấy chục năm trời.
Đối với tất cả Quý vị từng là SVSQ Trừ bị Thủ Đức, tôi xin kính báo : Quý vị có thể tự hào về những khóa đàn em của Quý vị, vào ngày 30 tháng 4, 1975, không những đã hiên ngang dùng súng cá nhân nã vào xe tăng hung hãn của địch mà còn can trường nhẩy lên chiến xa liệng lựu đạn diệt thù nữa..’

Trần Lý (Tháng 5-2013)

Anh hùng “trong bóng tối”

“Bóng tối” mà người viết muốn nói đây là  khoảng không gian mà ít ai tìm thấy - lẫn khuất và lánh tránh mỗi khi có biến cố, biến chuyển - Trốn tránh một cách tuyệt vời trước những hiểm nguy.

 

Nơi đó là đâu? Là phía sau trận địa, chui rút một cách tài tình khéo léo trước những đợt hành quân - nếu họ là quân nhân quân đội – phía sau phòng thuyết trình (TOC) để không phải lắng nghe và nhận lệnh. Nằm sau chiến tuyến khi chạm mặt kẻ thù. Ngay cả (thừa can đảm) dám bai gai, quậy quạng để được vào trại giam trước giờ đơn vị xuất phát HQ, mà từ thông thường được ban cho là “lạnh cẳng”.

 

Khéo léo và tài tình hơn nữa là cố chạy chọt về phục vụ tại các đơn vị tham mưu, văn phòng, hậu cần, yểm trợ… Hoặc là tỏ ra có “máu mặt” hơn để xin vào chức vụ xách “samxonize” cho “xếp”, bảo vệ quí lãnh tụ đi thăm thú đó đây. Họ cũng vào chiến trường, ra mặt trận. Cũng là người bao phen trước mủi đạn lằn tên. Và vì thế mà hầu như chiến tuyến, chiến trường, họ đều khá rõ. Từ đó, cũng rất dễ dàng xưng tụng “anh hùng”.

 

Ngày trước - trước 1975 – khi chiến trận tràn lan và ngày càng khốc liệt. Việc mất còn và sinh tử mỗi lúc một cận kề thì anh hùng “trong bóng tối” cũng không là hiếm. Nhưng mà chỉ là tiềm ẩn ít khi lộ diện. Muốn nhận chân một anh hùng như thế, ít thấy ai và cũng hiếm khi.

 

Nhưng, từ sau 1975, khi chiến cuộc lâm cảnh đau thương và một quân đội phải tan hang bức tử: người bị bắt, kẻ vào tù, đồng đội thất tán và chết. Gom lại một số tàn quân lẫn tránh nơi xứ người - khắp mọi quốc gia – Và đến khi yên vị, yên nơi, an toàn và có cơ phục hồi tình thế, thì cũng là lúc “anh hùng” lộ mặt. Và ở đâu người ta cũng thấy “anh hùng” – các quí anh hùng đã một thời gian ẩn mình “trong bóng tối” – bây giờ thì  ra ánh sáng để tỏ rõ.

 

Trong các cuộc biểu tình chống cộng sản ở nước ngoài, người ta vẫn thường gặp họ. Họ yên ổn và an hưởng một thời. Hôm nay họ vung vít oang oang. Toàn là những tai to mặt lớn, dày dạng chiến công và kiên cường trận mạc.

 

Mỗi năm, 30 tháng 4 về - ngày quốc hận của VNCH, ngày đen tối của cả dân tộc - ngưới ta thường thấy những “anh hùng”.

 

Phỏng vấn trên đài (truyền thanh, truyền hình), các anh hùng này vung vít vang lừng với bao nhiêu là chiến công hiển hách. Họ là tinh hoa của từng đơn vị, binh chủng nổi tiếng của QLVNCH – thao thao bất tuyệt – Bao khán giả, thính giả chưa từng biết họ là ai, người ta vô cùng nể nang thán phục. Chỉ tiếc rằng, anh hùng như thế, chiến công như thế, oai hùng như thế… mà sao lại thất thế, thua cuộc tan hàng? Bao nhiêu câu hỏi, và bao nhiêu là tiếc nuối? Nhưng mà, có ai biết đâu? Họ đây chỉ là những anh hùng “trong bóng tối” – có thể nói là những anh hùng “núp bóng”, có bao giờ xông pha trận mạc, chiến trường thật sự đâu mà nói “thắng” với “thua”. Đồng đội họ, chiến hữu họ… Những đơn vị tiếng tăm vang lừng… thật ra thì đã chết, đã thương tật, đã thân tàn, khốn khổ, ngậm ngùi ở một nơi nào đó xa xôi. Mà nếu có cũng ngày hôm nay, hiện hửu nơi đất lạ quê người, họ thường là mai danh ẩn tích – Anh hùng thật, thường ít nói khiêm nhường - Họ cũng lắm, cũng nhiều, nhưng không muốn ai biết đến. Biết đến làm gì trong tình cảnh vẫn còn thất thế sa cơ? Biết đến chỉ để thêm tủi, thêm hờn – vì bao phĩnh lừa giả trá - trước thảm cảnh đất nước quê hương khốn cùng xơ xác. Và biết đến để làm gì khi sức cùng lực kiệt, yếu đuối và lần lược ra đi…

 

Có chăng là trông cậy vào lớp trẻ. Thế hệ lớn lên nuôi chí khôi phục cơ đồ.

 

Đó là những “anh hùng” thật - thật sự, thật tình – Nhưng mà ai dám khoác lác cho một dĩ vãng tối tăm?

 

Người ta lại biện luận, nói là phải nêu lên thành tích, kể lể chiến công để lớp hậu duệ tỏ tường, mà thấm nhuần dấn bước. Từ đó mà mạnh dạn tiếp nối vai trò hiển hách của cha ông. Phải thế không? Có cần như vậy không? Một khi các anh hùng (bằng xương bằng thịt) kể lể chiến công, khoác lác múa may, chỉ là những chiến tích, kỳ công vay mượn. Mà thật sự là tự mình không có. Thiếu gì cách, đâu cần phải danh xưng “dõm”.

 

Một ông A, anh B, với sắc phục của một đơn vị oai hùng, nổi tiếng, lừng danh, thao thao bất tuyệt kể lể bao thành tích chiến công (toàn là tiếm công, tiếm vị, từ đồng đội của mình) thì có đáng để hãnh diện chăng? Thưa quí vị?

 

Họ là những anh hùng “trong bóng tối”

Lúc lâm nguy, bao giờ thấy họ đâu?

Trước giặc thù, họ ẩn núp thật sâu,

Chờ đến lúc an nhàn ra múa rối.

 

Họ là ai? Là chiến binh đồng đội,

Nói là “đồng”, nhưng mà “khác” lúc sa cơ.

Lúc đi tù, họ là kẻ trở cờ,

Luồn cúi địch, làm “ăn ten” chỉ điểm.

 

Trong hàng ngũ, họ cũng là rất hiếm

Vì hiếm hoi, nên xưng tụng “anh hùng”

Không bao giờ yên phận chốn lao lung

Cố chạy chọt cho một mình tiến bước.

 

Chưa tan hàng, họ là người chạy trước,

Chạy để tìm một chốn an thân.

Nơi vinh sang, họ kịp lúc dừng chân.

Giờ yên ổn, chui ra múa máy.

 

Vung chân, múa tay, cho bao người trông thấy

Phải thấy ta… là kẻ “anh hùng”.

Ta đã từng sinh tử chốn lao lung,

Thề quyết chiến, theo ta về phục quốc.

 

Ng. Dân.

30 tháng 4-1975 : Vài tài liệu cũ – Những chuyến bay cuối cùng của Air America tại Việt Nam. AA (Air America) CIA

 

(Xin gửi đến Quý vị vài tài liệu cũ vừa tìm lại được)

Bức hình lịch sử :  Chiếc trực thăng Bell 205 số N47004 của Air America đang bốc người di tản trên nóc Cao ốc Pittman ngày 29 tháng 4 năm 1975.

      Trong những ngày cuối tháng Tư 1975, Công ty Air America vẫn hoạt động như một công ty thầu chuyên chở cho Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam..

Công ty duy trì hai nhiệm vụ (theo như thỏa thuận đã nhận thầu):

  • Tiếp tục cung cấp các chuyến bay vận chuyển đến các phi trường của VNCH, càng ngày càng bị giới hạn về lãnh thổ.
  • Sửa soạn (trong bí mật) việc di tản nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ ra khỏi Sai Gon khi cần vì chỉ Air America có các loại trực thăng Bell 204B và UH-1H đang hoạt động tại VN (không kể các loại trực thăng của KQVNCH ngoài thẩm quyền kiểm soát của Hoa Kỳ)
  • Những chuyến bay ‘thường lệ’ (tháng 4-1975):

Ba phi cơ thường trực tại Cần Thơ (vị trí V-17) chuyên chở hành khách của USAID (số hiệu A-40A) hay của Tòa Đại sứ (A-40B).

   Ngày 6 tháng Tư : 2 phi cơ vận tải nhỏ Porters  và 1 Bell 204B

   Từ 11 tháng 4 : chỉ còn 1 Porter và 1 Bell tại Can Tho

   Từ 28-29 tháng 4 :  số phi cơ chuyển còn 3 chiếc UH-1H đậu tại Cần Thơ . Mỗi ngày có thể có 2-3 chuyến bay tử Sài Gòn dùng C-47 hay Caribou, có khi dùng phi cơ Volpar ghé qua Biên Hòa và Côn Sơn..

    Air America  cũng bay ra An Thới (Phú Quốc) (8 tháng 4 : bay An Thới-Kiên Giang-Cần Thơ..) dùng C-46 và Caribou.. Ngày 28 tháng 4, Chiếc C-47 (số 147) chở người ‘di tản’ đi Phú Quốc, qua lại giữa SaiGon và Dương Đông..

  Đến 29 tháng 4 : Ba chuyến bay dự trù : 2 bằng C-46 (Số 67984 và 67985) cùng một bằng C-47 (“559″) .. không thực hiện được.

     Đường bay Saigon-Vũng Tàu : Air America có nhiều chuyến bay theo phi trình này mỗi ngày ;

  • 8 tháng 4 :  2 UH-1H bay nhiều chuyến cho USAID ; C-46 (số 67985) bay ngày hai chuyến..
  • 9 tháng 4 : Bell 204 và Volpar cũng bay ra Vũng Tàu nhưng riêng Volpar (N9577Z) bay ra Nha Trang (lý do không rõ?)
  • 10 tháng 4  : Volpar bay  giữa Saigon-Vũng Tàu nhiều chuyến..

           Air America cụng bay nhiều chuyến bất thường như :

  • Phan Thiết : Caribou bay nhiều chuyến trong các ngày 11 và 12..Bell bay riêng cho USAID..
  • Phan Rang : Volpar bay liên tục trong ngày 12-4 ghé qua Biên Hòa.
  • Saigon-Biên Hòa-Tây ninh bằng trực thăng của Air America..và cả các điểm như Gò Công, Trúc Giang, Mộc Hóa : các phi vụ ‘chuyển vận’ riêng vật liệu và nhân viên ‘dân sự’ cần rời Việt Nam (?)
  • Bản ghi phi trình và danh sách phi công của Air America có ghi một số nhân viên người Việt : (hình chụp đính kèm)
Bản ghi rõ tên phi công (Việt) chỉ định cùng phi cơ sẽ bay
  • Vài phi vụ ‘bất thường ‘

   Ngày 16 tháng 4 năm 1975: một nhân viên ‘bán quân sự’  của CIA, bí danh ‘Lew James” bị quân BV bắt khi họ tấn chiếm Phan Rang. Lúc đầu Sai Gon cho rằng anh ta đã chết (?) hoặc đang lẩn trốn, chỉ biết chắc là bị mất liên lạc.. Air America nhận nhiệm vụ tìm và cứu: trong suốt 2 ngày 17-18, các phi cơ và trực thăng của Air America đã bay dọc duyên hải Phan Rang, theo Quốc lộ 1, ngay trên đầu các binh sĩ CSBV: chiếc Volpar đã bị  trúng nhiều đạn AK-47 vào hai cánh, phải đáp khẩn cấp tại một bãi biển cách Phan Rang vài miles, phi hành đoàn và nhân viên CIA đi tìm, sau đó được trực thăng, cũng của Air America cứu thoát.. về Vũng Tàu..

    Phi vụ Di tản “bí mật’: Phi vụ này không nhằm di tản nhân viên của Tòa Đại sứ Mỹ tại Sagon nhưng ‘di tản người Việt làm cho một Đài Tin tức do Tòa Đại sứ tổ chức’ . Air America đã chuyển vận khoảng 600 người trong bí mật và cuộc di tản này được xem là một thành công của Tòa ĐS (Vụ Di tản “Đài Mẹ Việt Nam”

     Một phi vụ khác cũng thuộc loại bí mật: bay từ Saigon đi Thái Lan di tản 143 nhân viên do CIA huấn luyện và Gia đình (đa số phụ nữ và trẻ em )..

     Trong những ngày cuối tháng Tư: Air America (AA) đã giúp chuyển vận khoảng 1000 kiều dân Philippines, muốn rời khỏi VN cùng gia đình.. dự trù sử dụng một LST (Dương vận hạm) của Phi. Từ 23 tháng 4, Chiếc UH-1H (20115) đã chuyển người Phi từ Saigon ra Vũng Tàu và sau đó đáp xuống LST, nhưng gia đình và thân nhân người Việt của họ không được phép rời VN. Nên sau đó nhóm người Phi này lại được đưa khỏi LST và trở vào Vũng Tàu cùng chờ với thân nhân ! Ngày 26-4, sự việc được giải quyết khi Bộ trưởng Ngoại Giao Phi Sabalones cho phép mọi người ‘liên hệ với công dân Phi’, dù không giấy tờ, được lên chiếc LST. Trực thăng AA đã làm con thoi vận chuyển được 600 người lên chiếc LST, khoảng 400 người được chuyển bằng sà lan trong đêm. LST này sau đó đi Subic Bay..

     Ngày 28 tháng 4 tại Cần Thơ : AA  dùng 3 chiếc UH-1H ( các số 20104, 20105 và 20110) và 1 Bell 204B (số N8514F), chuyển vận người Việt  di tản từ nhiều địa điểm khác nhau tại Vùng 4 ra một Tàu HQ Hoa Kỳ, chiếc Vancouver LPD II thả neo ngoài Cửa biển, 10 hải lý xa bờ , ngoài khơi  vùng Cần Thơ. Vancouver được Thương thuyền Pioneer Contender yểm trợ. Các trực thăng bay bốc người tại những điểm không tính trước : người di tản được đưa lên xe và chở ra ngoài thành phố, trực thăng bay trên đầu và khi tìm được điểm thích hợp sẽ đáp xuống (đường lộ vắng hay ruộng khô ) để đón người di tản..

  Phi công RW Hitchman (UH-1H “20105″) ghi lại: “Chuyến bốc đầu tiên tại 20 miles Tây-Bắc Cần Thơ, nhận 18 người di tản.. sau đó tiếp tục thêm nhiều chuyến cho đến chiều tối, tổng số người di tản lên đến khoảng trên 200 người..”

  Câu chuyện kế hoạch di tản Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu

Tài liệu ‘mật’ của Air America có ghi lại một đoạn giải thích việc thất bại trong kế hoạch di tản..

      [ Burke : Evacuation comments and observations – UTD/LaShomb/B8F4]

 .. “.. Chiều 27 tháng Tư, Đại diện AA Marius Burke họp với Jim Collins (bí số CIA 259) tại ‘Trụ sở Trương Quốc Dung” gần Phi trường Tân Sơn Nhất, và sau đó gặp Nhân viên Tòa Đại Sứ Jacobsen để bàn việc di tản Trường Thiếu Sinh Quân. Jacobsen từ chối (!) nhưng Collins đã dùng một ‘đường’ khác và liên lạc với Đô Đốc Benton để.. thực hiện kế hoạch.. dự trù sẽ thực hiện chiểu 28 tháng 4. Collins đã dùng trực thăng của AA bay ra Vũng Tàu lúc 5 giờ chiều..Theo kế hoạch , các em Thiếu Sinh Quân cùng toàn thể quân nhân và gia đình Trường sẽ được chuyển ra một chiến hạm Mỹ ngoài khơi Vũng Tàu Trường TSQ được liên lạc và sắp xếp chương trình di tản sẽ được tiến hành vào 6 giờ 30 sáng ngày 29. Chiếu tàu của Military Sealift Command dự trù chờ sẵn..

    Đại diện AA Burke bay ra hạm đội, đáp xuống chiến hạm USS Denver, chờ liên lạc..”Mọi chuyện xảy ra sau đó không còn kiểm soát được (?) Burke bay vào Trường TSQ, nhưng các cấp Chỉ huy Trường .. chờ ‘lệnh’ của Collins (!).. AA liên lạc với USS Blue Ridge nhưng không có lệnh chính thức (?), AA tiếp tục tìm cách liên lạc với Collins. (Trường TSQ cũng chờ..). Burke bay về DAO nhưng mọi chuyện lúc này mất kiểm soát.. AA tại Saigon đang lo di tản nhân viên của ..chính AA. Burke bất ngờ nhận một tin gọi của một người Việt trên FM.60.00 , gọi đến đón Collins (!), Burke cho là Collins đã bị bắt và .. radio bị tịch thu ?.. AA vẫn đến điểm hẹn của radio (10 giờ sáng) nhưng bị .. súng nhỏ bắn lên dữ dội..Burke trở lại Vũng Tàu, liên lạc với Trường TSQ để chuyển được gia đình Collins và 15 em TSQ trong chuyến bay trở ra Hạm đội để tiếp thêm nhiên liệu..Kế hoạch di tản Trường TSQ bất thành (Collins bị mất tích ?)

  • AA và kế hoạch di tản :

AA giữ một vai trò quan trọng trong kế hoạch di tản (bí mật) của DAO ngay từ đầu tháng Tư 1975.. Chỉ AA mới có các trực thăng (còn lại tại VN) để thực hiện di tản.

  Các cấp chỉ huy AA đã được phân nhiệm  vào ngày 7 tháng 4: Phi công kinh nghiệm Nikki A Filippi là người đại diện cho AA trong Nhóm Kế Hoạch Đặc Biệt tại Trung tâm Kiểm soát Di tản của DAO (Evacuation Control Center=ECC). AA Marius Burke phụ trách các chương trình di tản nhân viên AA, sắp xếp việc cư trú cho gia đình các nhân viên của AA vào sống trong các nơi tạm trú riêng cạnh Trụ sở AA tại Tân Sơn Nhất trong khi chờ được đưa ra khỏi VN. Boyd Mesecher, Giám đốc kỹ thuật lo phối hợp các kế hoạch di tản, gồm cả việc sắp xếp cho các nhân viên ‘quốc gia thứ 3’= Third Country National (TCN) liên hệ đến Hoa Kỳ gồm cả các nhân viên Trung Hoa Dân quốc của Air Asia (trong AA tại VN). Filippi đã tìm hiểu 37 cao ốc và  lập danh sách 13 nơi trực thăng có thể đáp trên nóc.. Ngày 16, các bãi đáp trên nóc các cao ốc này đã được thiết lập : 3 cao ốc tại Chợ Lớn được chọn cho nhân viên vùng này; 3 cao ốc tại Trương Minh Giảng và Trương Minh Ký dành cho TCN..

     Kế hoạch di tản của AA  gặp nhiều khó khăn từ phía Chính phủ VNCH  và cả Đại sứ Martin, muốn tránh gây hoảng loạn cho người Việt..Các binh sĩ TQLC Mỹ dự trù điều khiển di tản của trực thăng Quân đội Mỹ, ngày 25 tháng Tư đã phải dùng trực thăng của AA, trong quần áo dân sự, để bay từ Chiến hạm USS Hancock vào trụ sở DAO..

     AA cũng sửa soạn các trực thăng, đưa các trực thăng khả dụng đang từ Udorn (Thái) về VN.. các máy bay vận tải như C-46, C-47 được đưa về Taiwan.Một trung tâm tiếp liệu xăng và bộ phận rời được thiết lập tại Côn Sơn..

 (Xin đọc tiếp : AA ngày.. 29 tháng 4, 1975)                                 Trần Lý Tháng 4-2022

Air America  Volpar N36749  tại Sai Gon

        Air America C-47 “607″  tại Nha Trang

Air America Bell 204B (N8514F) .. phi công dân sự !

Nguồn: Mr. TL chuyển.

Vài tài liệu cũ : Air America (AA) ngày 29 tháng 4-1975 – Trần Lý

 

Máy bay trực thăng của CIA (Air America) 

                                                                   Trần Lý

Ghi lại vài hoạt động của Air America tại Việt Nam ngày 29 tháng 4

   Nhiều bài báo và trang sách đã viết về các chuyến bay di tản của Quân đội Hoa Kỳ, từ Hạm đội ngoài khơi bay vào (Chiến dịch Frequent Wind) Những tài liệu riêng của Air America.. mới được từ từ giải mật ..

    Chương trình di tản của AA  thật sự bắt đầu lúc 3 giờ chiều ngày 29; khi Tony Coalson đáp xuống Cao ốc USAID để đón các phi công AA : Sau những khó khăn và trở ngại,chuyến đầu bị quá tải do người (không thuộc AA) dành nhau chiếm chỗ. 9 người chen nhau trên chiếc Bell 204B (N13006X). Phải mất vài chuyến ‘con thoi’ mới đón dược 10 phi công trực thăng cùng 8 phi công cánh quạt về Trụ sở AA tại phi trường.

   Sau đó các trực thăng của AA đã vận chuyển nhiều chuyến di tản từ sân thượng Tòa Đại Sứ Mỹ , từ sân DAO ra  Chiến hạm Hancock và Blue Ridge ngoài khơi.

   Khoảng 9 giờ sáng :

“..một số phi công KQVNCH đã dùng súng cướp sáu trực thăng đang đậu tại bãi đáp ICCS (Ủy Ban Kiểm soát Đình chiến, đã ngưng hoạt động); trong số này có 5 chiếc UH-1H và 1 chiếc Bell 204B cũng đậu tại bãi của AA.

  • Các chiếc này có số : 69-16715 đáp ‘crash’ trên Tàu Blue Ridge ; 70-15738 (sau này xuất hiện tại Nam Hàn !); 70-15834 : rơi ngay khi cất cánh tại khu vực sân bay TSN; hai chiếc 70-15916 và 71-20186 .. không có tin tức gì.. Các chiếc này có lẽ do sơn dấu hiệu ICCS và có thể khi đáp trên chiến hạm đã bị đẩy xuống biển (?). Chiếc Bell 204B bị cướp số N105X, đáp trên Chiến hạm Kirk, sau đó được phi công HQ Mỹ bay về Chiến hạm Okinawa.

   Chiếc trực thăng thứ 7, chiếc UH-1H ‘20093′ cũng bị một nhóm phi công KQVNCH mưu toan cướp. Chiếc này đậu tại bãi ICCS, các quân nhân võ trang đã đầy trên bãi đậu và còn ngồi cả  trên các trực thăng..L.D Genz đã đến tháo dây cột cùng gỡ bạt che trực thăng, 6 quân nhân KQ đòi đưa họ ra hạm đội..Genz cho biết không đủ xăng nên chở nhóm này về bãi đậu của AA.. tại đây họ bị tước khí giới rồi tự giải tán..

     Chiếc thứ 8 của AA, cũng là một UH-1H ‘20103′ cũng bị quân nhân KQVN và gia đình chiếm sẵn nhưng F. Stergar cho biết phi cơ bị trục trặc.. tìm cách để nhóm này chịu rời máy bay..Sau đó dùng trực thăng này di tản nhiều chuyến..

   Sơ đồ  : Trụ sở DAO tại Tân Sơn Nhất ngày cuối tháng 4-1975

AA di tản các máy bay cánh quạt :

   Cùng lúc này Phó Giám đốc AA tại VN : Var Green cho lệnh di tản toàn thể nhân viên (kể cả các nhân viên VN) và chỉ trong vòng 30 phút tất cả nhân viên không cần thiết còn lại, đều ra đi trên các phi cơ cánh quạt; chỉ còn lại các phi công trực thăng cùng các nhân viên bảo trì khẩn cấp. Thật ra vài máy bay AA đã bay đi sớm hơn trước  khi có lệnh chính thức : ngay 9 giờ sáng, 2 chiếc C-47  (# 559 và # 084) đã cất cánh, mỗi chiếc cùng 24 nhân viên, đi Thái Lan ; sau đó các phi cơ cánh quạt của AA lần lượt khởi động máy..

 Tại giao lộ của hai phi đạo Đông-Tây và Bắc-Nam, lúc này có xác một C-130 của KQHK cháy rụi nhưng may mắn là còn đủ khoảng cách để tránh qua..Nhóm phi cơ của AA gồm 4 chiếc C-47, 2 chiếc C-46 và 1 Volpar bay về Thái Lan để đổ thêm nhiên liệu .

Riêng chiếc C-47 ‘083′ rời Saigon 3 giờ sáng ngày 29 cùng 33 hành khách (đủ quốc tịch, kể cả VN), khi cất cánh động cơ trục trặc phải bay đi Côn Sơn, đáp xuống lúc 4 giờ 30 sáng, sửa chữa tạm, Do số người Việt chạy khỏi SG đang tập trung khá đông trên đảo, AA dự định bỏ chiếc máy bay lại vì có thể không sửa nổi.. và trực thăng bay vào chuyển được 14 người ra hạm đội.. Máy bay cố sửa và người Việt trên đảo cũng không còn chú ý đến việc.. dành chỗ trên máy bay này.. Khi trực thăng trở vào định chuyển tiếp chuyến thứ nhì, thì phi cơ khởi động được và số nhân viên AA còn lại đã cùng bay đi Brunei (từ 7 giờ 30 sáng đến nơi lúc 11 giờ 30 ngày 30)

  Chiếc C-46 “N67985″ do Ed Adams bay đơn độc đã cất cánh nặng nể với 152 hành khách (dù chỉ có 52 chỗ ngồi), chỉ có một thợ máy AA trên máy bay.. vượt các chướng ngại rải rác trên đường ra phi đạo.. đến được Bangkok

   Trong suốt ngày 29, các trực thăng của AA đã liên tục chuyển vận các nhân viên Mỹ cùng những người Việt liên hệ từ các mái nhà cao ốc chọn trước trong thành phố về Trụ sở AA tại Tân Sơn Nhất và sau đó được các trực thăng lớn của HQ Mỹ đưa  tiếp ra Hạm đội..

  • Những chuyến trực thăng sau cùng của AA rời VN :
  • 16 giờ 15 : UH-1H N47004 , một trong 2 trực thăng của AA còn tại DAO bay ra USS Vancouver chở theo một số nhân viên cao cấp của AA
  • 16 giờ 30 : còn lại Phó Tổng GĐ cùng 4 người còn chở tại DAO : AA vẫn còn 16 trực thăng vẫn bay trên các cao ốc tại SG để chuyển người cần di tản.
  • 18 giờ 30 : ‘20139′ bốc di tản Edward Tifford nhân viên điều hành di tản tại  USAID, Khi trực tha7ng cất lên, 4 người Việt đã bám theo càng, và còn có súng bắn lên..Ralph Begien , Trưởng Trung Tâm Tin Tức Phi Hành của AA đã kéo được các người này lên dù không có các thiết bị an toàn..
  • Một câu hỏi ‘lịch sử ?’

“ TT Thiệu rời Saigon bằng một máy bay vận tải của Quân đội Hoa Kỳ đêm 25 tháng 4-1975. . Ông Nguyễn Cao Kỳ , lúc này, không nhiệm vụ chính thức. rời Saigon ngày 29 tháng 4 và đến Hàng không Mẫu hạm Midway..

  • Tin  ghi nhận trên các sách báo (Snepp, Bulter, Isaacs..) đều chép :  “Ông Kỳ bay chiếc ‘trực thăng riêng ?’ ra Midway ngày 29 tháng 4..
  • Công điện trao đổi của HQ Hoa Kỳ : CTF 76-13 giờ 00 (local time) Trực thăng AA di tàn Ông Kỳ cùng Bà Martin ra Chiến hạm Denver cùng 12 người khác (?)

Phi công Phil Vaugh  chở nhóm này và đáp xuống Denver lúc 12:30..Chiến hạm gửi tin đi lúc 13:00 ?

  • Về chiếc trực thăng ?

Trong số những trực thăng thu hồi lại được và đem về Hoa Kỳ, và bán đấu gía năm 1975, sổ sách có ghi chép về :

  Một chiếc UH-1H, có số đăng ký của VNCH XV-GCU (msn 10295, ex US Army 68-15365); Chiếc này tháng 10-1975 xuất hiện tại Corpus Christi, Texas dưới ‘màu áo’ AA (?). Tuy nhiên lại không phải là sở hữu của AA ! có thể đây là chiếc ông Kỳ sử dụng ? nhưng trên thực tế ông Kỳ đã dùng ‘tạm’ chiếc UH-1H “20081″ của AA (cho mượn ?), một ‘cách giải thích là có thể theo quy ước.. ngầm trong cuộc di tản.. các trực thăng của AA ..không bị CSBV nhắm bắn !.. và chiếc trực thăng có ông Kỳ.. vẫn an toàn khi bay trên không phận Saigon ?

                                                Bell 204 B của AA

Ghi chú : Trần Lý vẫn không tìm được tài liệu Việt-Mỹ nào về ‘phi công’ cùng bay với Ông Kỳ trên không phận Sài Gòn những ngày .. sau cùng ? Ông Kỳ tự bay ?

  • Bức hình cũ ?

  Hình bên dưới được ghi là cùa US Navy (official) với ghi chú là Ông Kỳ đến USS Midway ( hình chụp trên Midway) và sau đó được chuyển sang USS Blue Ridge (LCC-19)

Hình 2 : nhìn một góc khác . Có Tướng Ngô Quang Trưởng phía sau.

Phi công lái trực thăng .. là phi công của AA !  ?

Nguồn: Mr. TL chuyển.

Wednesday, June 21, 2023

Chiến Tranh Ngoại Lệ

Thời Ðệ nhị Thế chiến. Vài trò của OSS.

OSS. Office of Strategic Services, tiền thân của CIA, được thành lập bởi quyết định ngày 13.6.1942 của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bộ Tham mưu Liên quân không mấy hưởng ứng mặc dù nắm quyền kiểm soát cơ quan. William Donovan là Giám đốc đầu tiên. OSS có trách vụ thực hiện các công tác bán quân sự mật như tình báo , chiến tranh tâm lý , hổ trợ các phong trào chống đối địa phương, tổ chức và huấn luyện quân du kích tại những xứ Âu châu và Á châu bị Ðức Quốc Xã và Nhựt chiếm đóng. Hồ Chí Minh bắt liên lạc được với nhóm OSS ở Côn Minh và kết thân với Thiếu tá Archemides L.A. Patti mà nhiệm vụ chính là cứu các tù binh của phe Ðồng minh. Patti chuyển cho TT Truman một bức thơ của Hồ (không được trả lời), giúp Hồ thảo bản Tuyên ngôn Ðộc lập, cung cấp võ khí và giúp huấn luyện một số cán bộ Việt Minh. Hồ cũng tiếp xúc với Trung tá OSS Peter Dewey và tướng Không quân Claire Chennault, người sáng lập toán Cọp Bay, Flying Tigers.. Từ OSS xuất thân những chuyên gia tình báo gạo cội HK như Edward Lansdale, William Colby, John K. Singlaub, Lou Conein...

CIA thay thế OSS, hoạt động tại Việt Nam (1954- 1960)

Khi Thế chiến chấm dứt, Harry Truman giải tán OSS. Luật An ninh Qu6c gia năm 1947 thành lập cơ quan CIA, Central Intelligence Agency. Hai quyết định số NSC 4 và 4A của Tổng thống giao cho CIA điều hành nhiều vấn đề thuộc an ninh quốc ngoại. 

Thập niên 40 và 50 là thời kỳ "vàng son" của CIA. Ðúng vậy, ở Phi Luật tân, Ðại tá Lansdale thành công giúp Ramon Magsaysay dẹp quân phiến lọan Huks và đắc cử Tổng thống năm 1953. Tại Iran và Guatemala, CIA giựt giây cuộc lật đổ hai nhà độc tài Mohammed Mossadegh (1953) và Jacobo Guzman (1954). Tuy nhiên CIA thất bại âm mưu gây rối ở Estonia, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Ukraine và Albania thuộc khối Xô Viết. 

Các công tác chống Bắc Việt bắt đầu năm 1954, sau ngày Hiệp định Genève chia đôi tạm thời VN tại vĩ tuyến 17 để chuẩn bị bầu cử tự do năm 1956. HK cũng như Miền Nam không ký vào văn kiện. Dân hai miền Nam-Bắc có 300 ngày để định cư. Lansdale (được TT Eisenhower phái qua VN hoạt động sau ngày Ðiện Biên Phủ thất thủ 7.5.1954) thừa cơ hội cho đổ bộ ở ven biển Bắc Việt vài nhóm biệt kích qua những cuộc hành quân bí mật marops, maritime operations. Hồ Chí Minh ra lệnh cho 10.000 cán bộ ở lại Miền Nam và bũa rộng tại đây một mạng lưới gián điệp.

Năm 1956, CIA giúp tổ chức Nhóm Quan sát bán quân sự đầu tiên, the First Observation Group nằm ngoài hệ thống chỉ huy của Quân đội VNCH và do TT Diệm điều động,. Nhóm này công tác bên kia vĩ tuyến 17 để lấy tin và phá huỷ hệ thống liên lạc của địch. Năm 1958, có một thỏa ước Diệm-CIA để đưa biệt kích độät nhập Bắc Việt. Ngày 28.1.1961, trả lời câu hỏi của TT Kennedy, Giám đốc CIA Allan Dulles cho biết kết quả dưới mức mong đợi. Theo phân tích gia Herbert Weisshart, trong khối CS - nếu sánh với Nga sô, Trung quốc, Ðông Ðức và Bắc Hàn. được CIA mệnh danh quốc gia "phản gián/ vô thừa nhận, counterintelligence states, denied states" - thì Bắc Việt là nơi khó thực hiện nhất tâm lý chiến và công tác bí mật. Tình trạng này có nhiều lý do: Tại BV không thể lập khu kháng chiến maquis, kiểu Pháp thời chiến, do bên ngoài tiếp tế vì dân chúng bị nhồi sọ và hàng ngủ hoá triệt để. Mặt khác, bộ máy công an CS kềm kẹp sít sao thành thị, thôn quê đến hải phận; biên giới bị khoá chặt và không có sự giao thương, trao đổi tin tức, du lịch giữa hai miền Nam-Bắc. Bởi thế, CIA dồn 90% nổ lực vào Miền Nam. Ðã có một lúc Lansdale đề nghị tổ chức tại Bắc Việt một phong trào kháng chiến chống cộng để tạo rối loạn như ở Hung Gia Lợi năm 1956. Bộ Ngoại giao và CIA bác ý kiến này, cho là quá bạo, có thể gây đụng độ với Nga, Tàu và khai mào thế chiến.

Tổng thống Kennedy khởi đầu chiến tranh bất quy ước (1961)

Trong phiên họp 28.1.1961 tại Hội đồng An ninh Quốc gia, J.F Kennedy – vưà đắc cử Tổng thống - tuyên bố ông muốn những cuộc hành quân biệt kích được tổ chức bên trong Bắc Việt., mở màn một giai đọạn "đấu tranh khó hôn chiến tranh (quy ước) trên nhiều phương diện...", bởi thế "...cần nghiên cứu những gì Mao Trạch Ðông và Che Guevara đã viết về chiến tranh du kích." Ngày 27..4.1961, tai Hội đồng, tướng Edward G. Lansdale, bạn thân của TT Ngô Ðình Diệm, thuyết trình rằng Việt cộng đang thành công gia tăng khủng bố và du kích tại Miền Nam VN với chủ đích lật đổ chế độ hiện lung lay. Theo lời kể lại của Richard Helms – sau này trở thành Giám đốc CIA – Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, hai anh em Bundy, Walt Rostow và tướøng Maxwell Taylor ủng hộ hăng hái ý kiến của Tổng thống nhưng không có kinh nghiệm nhiều về vấn đề. 

TT Kennedy chỉ định một ban nghiên cứu do Roswell Gilpatric,Thứ trưởng Quốc phòng, chủ tọa và gồm có Lansdale, Rostow,Alexis Johnson và Desmond Fitzgerald, để thảo một "Chương trình Hành động cho VN, Program of Action for Vietnam". Phúc trình, nạp đầu tháng 5.1961, cho biết lối 58% lãnh thổ Miền Nam bị CS kềm toả. Phúc trình đề nghị chấn chỉnh gấp hệ thống an ninh và phát triển trong xứ, kèm theo một kế hoạch xâm nhập bí mật Miền Bắc. Ngày 11.5.1961, TT Kennedy chấp nhận và nóí rỏ trong quyết định hành pháp NSAM 52 "Mục tiêu của HK là .ngăn CS thôn tính Miền Nam; dựng tại đây một xã hội dân chủ vững vàng bằng cách áp dụng cấp bách một loạt biện pháp mật về mặt quân sự, chính trị, kinh te ávà tâm lý"

Cuộc chiến bất quy ước chống Bắc Việt trải qua hai giai đọan từ Kennedy cho đến Nixon.

A –Giai đọan 1961 -1962: 

Luật sư William Colby, tốt nghiệp Princeton, nói rành tiếng Pháp, là trưởng đoàn CIA tại Saigon từ 1959. Ông chủ trương "gia tăng sự bất ổn tại Bắc Việt để lập thăng bằng với tình trạng thiếu an ninh mà cộng sản tạo ở Miền Nam." Gilbert Layton điều khiển ngành đặc công. Vì phương tiện giới hạn cho nên CIA chỉ đưa được trên vĩ tuyến 17, bằng đường bộ, đường biển và thảy dù, lốâi 30 biệt kích tổ chức thành toán (teams), mổi toán 6 người, và một số gián điệp viên hoạt động đơn độc (singletons). Lực lượng đặc công gồm đa số người Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Genève 1954. Thoạt tiên, họ có trách vụ " tổ chức trên đất địch một căn cứ du kích" nhưng về sau, vào đầu năm 1962, vì vấp phải khó khăn thực tế, Colby phải đổi hướng công tác của họ thành tình báo, phá hoại, chiến tranh tâm lý và rải truyền đơn "Gươm Thiêng Ái Quốc". Dù đổi nhứ thế, kế hoạch vẫn thất bại nặng , theo phúc trình của Ủy ban 303, The 303 Committee, được Toà Bạch ốc đặt ra để trắc lượng chiến dịch: Gần tất cả các biệt kích vượt tuyến bị CS bắt giử, tra tấn, thủ tiêu hay buộc cọng tác với chúng. Ủy ban điều tra nêu ra nhiều lý do thất bại: Hoa kỳ giao phó cho Chính quyền Saigon tuyển mộ trực tiếp các biệt kích nên không kiểm soát được về vấn đề nội gián. Một khi lọt vào Bắc Việt họ không liên lạc dược với nhau và bị dân địa phương nhận diện mau chóng; CS gài tình báo vào phiá đối phương. Phương cách thả dù các đặc công mà không chuẩn bị cho họ một cứ điểm đổ bộ an toàn để họat động trong lòng địch – The Blind Drop concept – tỏ ra tai hại. Theo lời kể lại của cựu Thiếu tá biệt kích Trần Khắc Kính, hiện ngụ tại Californie, đêm 2.6.1961, Trung tá không quân Nguyễn Cao kỳ lái chiếc máy bay C47 bay ra Bắc Thái thả dù toán Castor. 

Tai hại nhất là Averell Harriman, "thầy dùi" của TT Kennedy, vận động để ba phe Lào (Quốc gia-Cộng sản -Pathet) , Nga sô và Bắc Việt chấp nhận trung lập hoá xứ Lào tại Hội nghị Genève. Theo Harriman, giải pháp trung lập hoá ít nguy hiểm hơn chọc tức Bắc kinh bằng cách tấn công trực tiếp Bắc Việt. Sau ngày ký Hiệp ước 6.7.1962, Mỹ rút hết quân. Hànội rút tượng trưng ...40 cán bộ (!)ä và gài lại 10.000 du kích ở Thượng Lào. Dùng Lào làm bàn đạp, CSVN gấp mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh (khai thông từ thập niên 50) để ào ạt xua quân vào Nam dưới mũi của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Chỉ trong tháng 6.1962 mà thôi, Hànội đưa được 1.500 lính chính qui qua ngã Lào và Miên. Thế quân sự nghiêng hẳn có lợi về phiá Bắc Việt.

B – Sau 1962: Ngũ Giác Ðài thay thế CIA. 

Cuối 1961, các phúc trình báo động của Ban Thẩm lượng Tình Báo Quốc gia , National Intelligencve Estimate (hay NIE) thúc Kennedy dứt khoát chấm dứt công tác bán quân sự của CIA ở Bắc Việt và chuyển trách nhiệm qua Ngủ Giác Ðài. Sự thất bại đổ bộ tại Vịnh Con Heo, Bay of Pigs Cuba, ngày 28.6.1961 để mưu lật đổ Fidel Castro, càng chứng rỏ CIA bất tài. Tháng bảy 1962, McNamara triệu tập đại diện của Bộ Quốc phòng, Ban chỉ huy Thái Bình Dương, CIA, Bộ Ngoại giao và cơ quan MACV tại Honolulu nghiên cứu kế họach Operation Switchback. Tướng Harkins , xếp MACV – con gà nòi của Maxwell Taylor tại Sàigòn - tỏ ra rất lạc quan mặc dù cuối 1962, 300 du kích Việt cộng kháng cự thành công tại Ấp Bắc, Ðồng Tháp Mười, với Sư đoàn 7 Bộ binh của VNCH. Báo chí và công luận HK xao xuyến mạnh về trận đánh này. 

TT Johnson cho thành lập SOG (1964) . Kế họach OPLAN 34A 

Vì hệ thống biệt kích trên vĩ tuyến 17 do CIA sắp xếp nên cần có một giai đọan chuyển tiếp, CIA và Quân đội cọng tác. Giai đọan này kéo lằng nhằng cho đến 1964. Ngày 24.1.1964, Bộ Tư lệnh MACV tại Sàigòn ra công văn thành lập cơ quan Nghiên cứu và Quan sát SOG, để thi hành kế hoạch Operation Plan trên đất Bắc Việt. OPLAN 34A được TT Johnson chấp thuận, 4 ngày sau vụ ám sát Kennedy, chiếu đề nghị của McCone ,Mc Namara, Rusk, Bundy. và tướng Krulak. Kế họach này – do Partain, Woolard, McLane và Kingston liên tiếp phụ trách - gồm có 72 lọai biện pháp để thực hiện trong 12 tháng, nhằm 2,062 mục tiêu. 

Về sau, Giáøm đốc CIA William Colby có nhắc lại: "Lúc đó, tôi đã lưu ý McNamara các chiến dịch này không thể thành công. Quan điểm của phiá Quân đội (HK)ï là CIA hành động quá ít, quá chậm và không đi sâu được vào khối dân chúng ở Bắc Việt. Ðây là McNamara cổ điển: Các con số trả lời cho tất cả, Numbers are answers to everything! Ôâng ta tin rằng chỉ cần gia tăng ào ạt những cố gắng hoạt động bí mật thì sẻ gây rối lọan bên trong Bắc Việt và có thể buộc Hồ Chí Minh ngưng ủng hộ kháng chiến ở Miền Nam!" (đọc "Secret War" trang 36):

Kế họach OP 34 tổ chức bốn toán biệt kích mang bí danh Bell, Remus, Tourbillon và Easy, tổng số gồm lối 30 người . Toán thứ năm, Europa, được CIA đưa ra Bắc vào tháng hai 1962, đã ngưng liên lạc bằng ra-dô và coi như mất luôn. Ngoài ra, CIA còn xử dụng một gián điệp viên có bí danh Ares. CIA cũng trao lại cho SOG trại Long Thành đang huấn luyện gần 169 cán bộ và một vài trụ sở ở trung tâm Sàigòn. McNamara và Hoa Thịnh Ðốn hối thúc SOG bắt tay vào việc. Từ tháng 4.1964 cho đến tháng 10.1967, gần 250 biệt kích chia thành 30 toán, được gài thêm vào Bắc Việt. Nếu cọng với số người của CIA họat động sẳn thì tổng số lên đến 500. Cuối 1967, có tấùt cả 7 toán đặc công: Remus, Tourbillon, Easy, Eagle, Hadley, Red Dragon, Romeo, và một gián điệp mang tên Ares. Năm 1968, cơ quan DIA, Defense Intelligence Agency, trong đó có cả đại diện CIA, tổng xét thành quả và kết luận bi quan rằng phiá địch, trong gần bảy năm, chẳng những phá vỡ được các toán nóí trên mà còn xử dụng họ chống lại Miền Nam dưới nhiều hình thức (phản gián, thông tin xuyên tạc, phỉnh gạt....). 

Các toán đặc nhiệm được đưa ra Bắc Việt vào những lúc khác nhau, không họat động chung một chổ, đảm nhận công tác riêng biệt và không liên lạc với nhau vì cần bảo mật tối đa : Toán Tourbillon, tại vùng Tây Bắc từ tháng 5.1962, để phá hoại và lấy tin – Toán Easy tại Sơn La từ tháng 8.1963, để liên lạc với sắc dân Mèo-Thái, tổ chức họ chống chính phủ – Toán Remus, trong vùng Ðiện Biên Phủ, từ tháng tư 1962, để thiết lập căn cứ và làm tình báo – Toán Eagle, gần biên giới Hoa Việt, vào tháng 6.1964, để tìm cách phá hoại hai con đường số 1 và 4, thiết lộ Nam Quan và sân máy bay Mai Pha – Toán Romeo, ở phiá Bắc khu phi chiến DMZ , từ tháng 11.1965, để theo dỏi các đoàn quân xa trên quốc lộ 103 – Toán Haddley, cũng ở phiá Bắc DMZ, để quan sát sự di chuyển của địch trên quốc lộ 8 nối liền với các trục giao thông số 15, 81, 12 và 121 dẫn sang Lào. – Sau hết, toán Red Dragon, từ tháng 9.1967, để hoạt động phá hoại và thông tin trong hai tỉnh Lào Cai và Yên bái.

Giai đọan Nixon. Hoa kỳ rút quân. Kế hoạch OP 35 chấm dứt (30.4.1972)

Ðầu năm 1969, TT Nixon nói với Bộ Tham mưu: "Tôi sẽ chấm dứt chiến tranh. Mau chóngï." Ông gởi thông điệp cho Hànội đề nghị BV và HK đồng rút binh khỏi Miền Nam. Ðể gây áp lực, Nixon cho thả bom các đặc khu CSVN tại Miên. Hànội không nao núng, xua thêm quân vào dưới vĩ tuyến 17 và tuyên bố sẽ kiên trì đàm phán ở Hội nghị Paris "until the chairs rot, cho đến khi ghế mục!" Nixon ra lệnh cho Kissinger nghiên cứu trả đũa bằng cách phong tỏa các hải cảng địch và gia tăng oanh tạc BV. Nhưng Kissinger lại đề nghị "việt nam hoá" chiến tranh. (còn gọi là jaunissement, yellowing the war). Tháng mười .1968, chuyên gia Anh chống du kích Sir Robert Thompson – từng thành công dẹp lọan tại Mã Lai trong thập niên 50 và đã giữ vai trò cố vấn ở VN từ 1961 đến 1965 theo lời mời của Kennedy - đưa ra giải pháp này và cho biết Miền Nam, với một triệu quân tại ngũ, có thể, trong vòng hai năm, tái lập hoà bình nếu Mỹ tích cực giúp Chính phủ Sàigòn về vũ khí và kinh tế. Theo Thompson, chi phí viện trợ này vẫn còn rất rẻ vì dưới thời Truman, Mỹ đã xài tới 150 tỷ đô la. Trên thực tế, đây chỉ là một giấc mơ vì thời hạn hai năm quá ngắn. Hơn nửa, năm 1970, Nixon cho rút 150,000 lính Mỹ, bất chấp MACV báo động quyết định này sẽ gây khó cho thủ tục việt nam hoá. 

Tháng hai 1970, dưới sự chỉ huy của Ðại tá Don Schungel, những toán thám thính Prairie Fire. thuộc kế hoạch OP 35, thực hiện 441 chuyến ï quan sát tại Lào, dọc đường mòn Hồ Chí Minh. và gặp sự chống cự mãnh liệt của các toán truy nã, tracker teams, Bắc Việt. 12 quân nhân Mỹ tử vong , 98 bị thương và 4 mất tích.

Tại Cam bốt, trong 4 tháng đầu năm 1970, kế họach thám sát Salem House khám phá BV lập nhiều căn cứ đột nhập và trạm tiếp viện gần biên giới Miên-Việt. Ngày 18.3.1970, tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk. Cuộc hành quân hổn hợp Mỹ-Viêt mang tên Operation Bình Tây trên đất Miên phá hủy, ít nửa tạm thời, hệ thống quân sự địch. Ngày 1.5.1970, sinh viên phản chiến của Kent State biểu tình chống đối rầm rộ ở Ohio. Tiếp theo , dân chúng xuống đường tại Washington. Kết quả là, kể từ 30.6.1970, cơ quan MACVSOG không còn được phép dùng biệt kích Mỹ trên đất Miên. Tổng kết, chiến dịch Salem House đã thực hiện 577 lần xuất quân. Tất cả – trừ 19 – có tính cách thám sát.

Ðể chuẩn bị tái ứng cử Tổng thống năm 1972, Nixon lấy một quyết định ngoạn mục: cắt đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào dài theo quốc lộ 9 và tiêu hủy cơ sở BV trong vùng. Tướng Creighton Abrams, tư lệnh MACV, đề xướng chiến dịch Lam Sơn 719 do hai tướng Hoàng Xuân Lãm và James Sutherland điều động. Skip Sadler, người chỉ huy chót của MACVSOG, nói với tướng Lãm: " Mối lo lớn nhất của tôi là làm cách nào ông sẽ rút khỏi địa ngục này." Ðể dọn đường cho chiến dịch và đánh lạc hướng đối phương, các đội đặc công SOG thả dù những hình nộm , chất nổ và truyền đơn ở phiá Tây Khê Sanh và trong thung lủng Ashau nhưng tướng Võ Nguyên Giáp không để bị gạt và sẳn sàng ứng chiến với 4 sư đoàn chính quy. Lam Sơn 719 bắt đầu ngày 8 tháng hai. Sau 6 tuần chiến đấu, Quân đội VNCH tổn thất 50% và Việt cộng kiểm soát được phần đất phiá tây của Quân khu 1 và vùng DMZ. Con dường tiến về Huế không còn bị ngăn. BV chuẩn bị tổng tấn công vào mùa Phục sinh 1972.

Ðại tá Roger Pezzelle, người chỉ huy cuối cùng kế hoạch đặc công OP 35, than phiền bị Hoa Thịnh Ðốn bó tay vì từ nay, mổi lần hành quân thám sát tại Miên hay Lào đều phải xin phép trước ba hôm Bộ Tham mưu Liên Quân HK ngang qua MACV. Chán nản, ông nói: "Isn’t it ridiculous?". Ngày 30.4.1972, bằng một thông cáo, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương ra lệnh chuyển giao tất cả chương trình SOG cho Nha Giám đốc Kỹ thuật Chiến lược của VNCH. Từ tháng giêng đến cuối tháng ba, tai mắt của MACV trên lãnh thổ CS không còn nửa.

Kinh nghiệm từ một sự thất bại. Vai trò tương lai của chiến tranh bất quy ước

Ðến nay, về cuộc chiến âm thầm chống Bắc Việt, có nhiều phóng sự giật gân của tác giả ngoại quốc hay hồi ký phiến diện của một số cựu biệt kích từng bị CS giam cầm. Xuyên qua hồ sơ vừa được Bộ Quốc phòng bạch hóa - có thể chưa nói hết - thế giới nhận rỏ hơn vì sao Hoa kỳ thua ở VN về cà hai mặt, chiến tranh quy ước và chiến tranh bất quy ước. Những lý do nào khiến Mỹ thất bại trong chiến tranh thứ hai?

1 – Thiếu chủ trương thích ứng, đồng nhất và liên tục, thiếu lãnh đạo ở cấp chóp bu. Eisenhower dùng chiến tranh mật như một lợi khí hệ trọng để thắng thế trong Chiến tranh lạnh. Kennedy, quá lý tưởng, áp dụng các phương pháp chiến tranh mật một cách năng nổ nhưng không nghiên cứu kỹ quyết tâm và phản ứng của địch. Ðể cứu vản chương trình chấn hưng xã hội "The Great Society" của ông tại Mỹ và vì bị xô đẩy bất thần vào một tình trạng khủng hoảng sau cái chết của Diệm và Kennedy, Lyndon Johnson thận trọng đối phó với Hànội theo đường lối "graduated answer/graduated pressure, trả lời/gây áp lực tùy thời " . Chính sách "gà nuốt giây thung" này bó tay SOG. Với Nixon, covert action, cuộc chiến đấu âm thầm là một chiến thuật để thoát khỏi bế tắc đối ngoại. Nói tóm tắc, HK đánh mà không muốn thắng, Công luận HK không đủ nhẫn nại để chiụ đựng một cuộc chiến dai dẳng. Ấn tượng Nga- Tàu ám ảnh không thôi Hoa Thịnh Ðốn.

Mặt khác, CIA thất sủng không hết lòng cộng tác với SOG trong giai đoạn chuyển tiếp 1962.- 1964. Nghiêm trọng hơn, các Tư lệnh liên tiếp của MACV, từ Paul Harkins, Maxwell Taylor, William Westmoreland cho đến Creighton Abrams, vẫn coi chiến tranh quy ước là biện pháp hữu hiệu duy nhất và. không tin chiến tranh mật giải quyết được gì. Quân đội từ chối sáp nhập SOG vào các kế họach chiến tranh. Ngoài ra, Ðại sứ HK William Sullivan tại Vientiane không mấy sốt sắng giúp biệt kích SOG độât nhập Lào để khuấy phá đường mòn Hồ Chí Minh, viện lẽ Hiệp ước Genève 1962 đã trung lập hoá nước này. Cấp chỉ huy cơ quan SOC – Blackburn, Singlaub và Cavanaugh - than phiền thái độ dè dặc của Sullivan gây khó khăn cho họ không ít. 

2 – Thiếu sự huấn luyện và kinh nghiệm tâm lý cần thiết. Thuyết chiến tranh bất quy ước, unconventional warfare doctrine, đến nay vẫn được xem như một phần ăn khớp với chiến tranh nóng và không có vai trò then chốt trong chiến tranh lạnh. Du kích không có mặt trận. Có nhiều khác biệt sâu rộng giữa những gì Special Warfare School tại Fort Bragg dạy suốt 15 tuần lễ cho các sĩ quan thuộc Lực lượng Ðăïc biệt và thực tế chiến trường ở Bắc Việt trong phạm vi thám báo, chiến tranh tâm lý, chống khủng bố, phá hoại hậu cần địch, phương thức để sống sót trong nghịch cảnh..vv..Công tác tiếp vận các toán xung kích vượt tuyến vấp phải muôn vàn trở ngại. Chương trình huấn luyện, tổ chức theo lối Mỹ tại các trường biệt kích Thủ Ðức và Long Thành, không thích ứng vói nhu cầu chiến lược và chiến thuật. Chính phủ Miền Nam không có tiếng nóí quyết định trong các cuộc hành quân bên kia vĩ tuyến. Ai chi địa thì chỉ huy! Nội gián len lõi vào bộ máy đánh giặc phíùa quốc gia. Ðể làm việc với đồng minh Mỹ về biệt kích, Chính phủ Sàigòn có Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống (thời Ngô Ðình Diệm) đổi thành Nha Kỹ thuật năm 1963, do một sĩ quan cấp tá chỉ huy: Lê Quang Tung, Trần Văn Hổ, rồiVương Văn Ðông (được lối 3 tháng), sau hết Ðoàn Văn Nu.

Nói tóm tắc, Mỹ thua chiến tranh quy ước lẫn bất quy ước vì dốt tâm lý Á châu, không nắm vững chiến thuật du kích, ngạo mạn, thẩm lượng sai ảnh hưởng của Bắc kinh và Mạc tư khoa đối với Hànội, đoán trật quyết chí của CSVN và coi thường đồng minh Việt Nam Cọng hoà. Miền Nam là con cờ thí trong chiến lược toàn cầu Hoa kỳ. "Ðất nước có thể tránh được chăng số mạng hẩm hiu nếu nhà cầm quyền ở Sàigon, thay vì vọng ngoại, biết sáng suốt tạo một cái thế dân tộc vững chắc và chọn con đường dân chủ thích hợp? ", người quốc gia vẫn tự hỏi như thế, tuy đã chậm. Dĩ vãng, dù sao, cũng là ông thầy tốt nếu không uổng phí bài học quá khứ . 

Hiện không có thống kê chính thức về số cãm tử quân hy sinh tại BV. Phỏng chừng 500 người mất tích. Riêng kế họach OP 35 gồm có ba toán tổng cọng 110 sĩ quan và 615 đặc công.Trong mỗi đội thám sát có ba người Mỹ và 250 Việt. Từ tháng hai đến tháng tư 1973, Hànội phóng thích 591 tù binh HK, không có sĩ quan SOG nào. Vận mệnh của những chiến sĩ đặc nhiệm ra sao? Thời Kennedy, tổng nhân số Lực lượng Ðặc biệt lên đến 10.000 người. Thập niên 70, sụt xuống còn 3.600. Chính quyền Mỹ muốn quên họ đi, viện lẽ.... không có tuyển mộ họ công khai.(!). Theo Sedgwick Tourison ,tác giả quyển sách "Secret Army, Secret War", nxb Marine Institute, 1994, nhờ Ðại sứ HK David Lambertson ở Bangkok can thiệp mạnh, 15 người, cựu biệt kích VN đầu tiên được Sở Di cư và Nhập tịch cho vào Mỹ năm 1995. Gần đây, Quốc hội biểu quyết trợ cấp 40.000 đô cho mỗi người.

******

Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, chiến tranh nóng phản ý nguyện hoà bình của nhân loại. Hai nhóm chủ trương và chống đối chiến tranh bí mật vẫn tranh luận sôi nổi. Thời thế mới, - nửa lạnh nửa nóng -, đòi hỏi biện pháp mới, thực tế và hữu hiệu hơn. Răn đe suông hay xử dụng bừa bải võ khí tối tân không thích hợp. Tháng 11.1986, thời TT Reagan, Quốc Hội Mỹ biểu quyết thành lập SOCOM, US Special Operations Command. Cơ quan này, đặt dưới quyền điều khiển của một tướng bốn sao, có trách vụ thảo hoạch đường lối và chăm lo các vấn đề huấn luyện, điều nghiên kế hoạch và .trang bị các lực lượng tác chiến đặc biệt, special operations forces hay SOF. Nói cách khác, chính quyền HK công nhận cần tổ chức và xử dụng chiến tranh bí mật để đối phó những trường hơp "tranh chấp có cường độ thấp, low intensity conflicts hay LIC", thường xảy ra ngày nay trên địa cầu với nhóm quốc gia bất trị (còn gọi là "nước du côn, rogue nations") thích xử dụng vô tội vạ khủng bố, vũ khí giết số đông và xúi dục phiến lọan. Rắn rít độc hại hơn khủng long. Ngoài ra, sắc tộc, tôn giáo và tội ác có tổ chức cũng gây bất ổn dễ dàng. Tài khóùa 1987, SOF nhận được 1,6 tỷ trong ngân sách quốc phòng 300 tỷ đô. Thời hậu chiến tranh lạnh khó kiểm soát hơn cả chiến tranh lạnh. Rối rấm có thể nổ bất luận ở đâu, lúc nào, vì mọi lý do.

Trong tương lai, về an ninh, Hoa kỳ sẽ trực diện nhiều thách thức quốc tế mới. Cần điểu chỉnh và cập nhật hoá thường xuyên tân chính sách, chiến lược và phương tiện. Hoa Kỳ cũng sẽ gặp trở ngại và phiền toái gây thất vọng như ở Việt Nam. Kinh nghiệm đã qua giúp siêu cường này không tái phạm sơ suất củ. Mong lắm thay!

LÂM LỄ TRINH

Thủy Hoa Trang

THƯ TỊCH

• "The Secret War Against Hanoi" của Richard H. Shultz, JR.Harper Collins Publishers, 2000 

• "Secret Army, Secret War" của Sedgwick Tourison, Marine Institute Publ. 1994 

• "Early Covert Action on the Ho Chí Minh Trail" của Ken Conboy & James Morisson in VIETNAM, August 2000 

• "Project Delta Disaster" của Ken Conboy & J. Morrison in VIETNAM, October 2000 

• "Việt Nam, Histoire secrète d’une victoire perdue", par William Colby, Perrin , Paris , 1989