Friday, November 18, 2011

Hùng Cường - Mai Lệ Huyền















Hùng Cường & Mai Lệ Huyền
Là cặp song ca kích động nhạc lẫy lừng sân khấu Việt Nam trước 1975. Tiểu sử của mỗi người đã được cập nhật trong website này trong phần ca sĩ.
Ca sĩ Hùng Cường đã qua đời tại Hoa Kỳ.
Là ca sĩ thường hát chung một đôi kích Động Nhạc cùng với ca sĩ Mai Lệ Huyền. Anh có thời gian hát cổ nhạc và cũng còn là một nhạc sĩ có nhiều sáng tác trong làng nhạc vàng Việt Nam. Ca sĩ Hùng Cường là một trong những nam danh ca của tân nhạc Việt Nam với giọng hát "ténor" nổi tiếng.
Hùng Cường
Anh sinh ngày 21 tháng 12 năm 1935, đã lăn lộn trong nghề trên bốn thập niên trong nhiều lãnh vực nghệ thuật : Tân Nhạc, Cổ Nhạc, Kịch Nghệ và Ðiện Ảnh. Anh đã bước lên sân khấu lần đầu tiên khi còn đang theo học tiểu học tại trường Trần Hưng Ðạo với nhạc phẩm "Con Chim Hòa Bình Ðang Ðau Nặng" của Lê Thương và đã được toàn thể thầy cô, phụ huynh và học sinh cả trường hoan nghênh. Ngay từ những năm 54, 55 anh đã nổi tiếng qua các nhạc phẩm: Ông Lái Ðò, Vọng Ngày Xanh, Sơn Nữ Ca, Ðường Xưa Lối Cũ, Chàng Ði Theo Nước, vv... Qua đến thập niên 60, Hùng Cường được biết đến nhiều hơn nữa khi gửi đến người nghe những nhạc phẩm được gọi là kích động nhạc vào thời đó, nhằm vào những sinh hoạt trong cuộc sống quân ngũ như : Dù Hoa Lạc Lối, Ðám Cưới Nhà Binh, Một Trăm Phần Trăm, Kim, Say, vv... Sau đó hợp với Mai Lệ Huyền thành cặp "Sóng Thần", nổi tiếng với những ca khúc tươi vui và kích động như: Hai Trái Tim Vàng, Vì Chưa Ngỏ Ý, Hờn Trách, Túp lều Lý Tưởng, Bắt Ðền, vv... Tất cả những nhạc phẩm này đã được thu điã và đạt được một số bán kỷ lục...
 
 
Mai Lệ Huyền
Tên Mai Lệ Huyền là của nhạc sĩ Trần Trịnh đặt cho cô. Mang hai dòng máu Việt Lào, bản hát đầu tiên của cô là bản Duyên Quê của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, bản thứ hai là một bản Twist của nhạc sĩ Khánh Băng.
Cô bắt đầu được chú ý nhiều hơn khi được mời trình diễn tại các Club Mỹ với các ban nhạc lừng lẫy như ban nhạc Huỳnh Háo, Huỳnh Anh, Taming Piano, thầy Xuân, Đoàn Châu Nhi (guitar), Anh Trổ, Anh Hạnh... Cô cũng từng nhiều lần với nhạc sĩ Trần Văn Trạch hát chung với Khánh Hà, Elvis Phương trong các Club Mỹ...
Sau biến cố Mậu Thân 68 bước qua đầu 69, phong trào ca nhạc vũ trường phòng trà SG tương đối đã dần khởi sắc trở lại... và lúc này tên tuổi của Mai Lệ Huyền đã bắt đầu đi vào một quỹ đạo nổi tiếng đầy sức thu hút lạ thường. Y Vân (tác giả của nhiều bài hát được ưa thích lúc bấy giờ như Ảo Ảnh, Lòng Mẹ, Thôi... ) thấy lối trình diễn của cô "bạo" quá nên vội vàng mời Mai Lệ Huyền thu dĩa ngay và còn sáng tác nhiều bài hát theo thể điệu nhạc giựt để cô trình bày. Phong trào nhạc Agogo, Twist tại Sài Gòn bước vào giai đoạn "cao điểm" sau khi nhóm Trịnh Lâm Ngân (Trần Trịnh & Nhật Ngân) tung ra ca khúc Gặp Nhau Trên Phố do Mai Lệ Huyền hát cặp với Hùng Cường, 1 ngôi sao sáng chói và ăn khách nhất bên phía Nam lúc bấy giờ.

Thanh Mai





Nghệ Sĩ trước năm 1975






















Trung Chỉnh








Trung Chỉnh
 
 
Ca sĩ thường hay hát chung với Hoàng Oanh, tiêu biểu là bài Anh Hậu Phương, Em Tiền Tuyến. Vốn là bác sĩ Quân Y, về sau hành nghề tại Hoa Kỳ.
 

Trúc Mai







Trúc Mai
 
Sinh quán tại Gia Định, về sau dọn về Thủ Đức, bắt đầu sự nghiệp ca hát vào lúc 16 tuổi, thường hát trong các khu quân sự của Hoa Kỳ và phòng trà, cà phê.
Còn có danh hiệu là nữ hoàng Mambo. Hiện đang định cư tại Hoa Kỳ.

Thiên Trang




Phương Hồng Ngọc






Phương Hồng Ngọc
Nhờ có khiếu ca hát từ nhỏ, Phương Hồng Ngọc đã được gia đình cho phép theo học nhạc tại lớp nhạc Nguyễn Đức khi lên 12 tuổi để làm thành viên của cả 2 ban hợp ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức phụ trách trên đài phát thanh. Đó là ban nhi đồng ABC và ban Việt Nhi. Với số tuổi đó, Phương Hồng Ngọc trở thành người lớn nhất trong ban nhi đồng, nhưng lại là người nhỏ tuổi nhất trong ban Việt Nhi. Không những vậy, chị còn là thành viên của ban hợp ca Sao Băng nữ cũng do Nguyễn Đức thành. Lúc đó, ban hợp ca Sao Băng nữ gồm Phương Hòai Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc, Phương Minh Châu, Phương Hồng Loan, Kim Anh...
Dưới mắt nhạc sĩ Nguyễn Đức, Phương Hồng Ngọc có một giọng hát mượt mà và đặc biệt có khả năng hát bè vững vàng. Do đó trong những tiết mục hợp ca, Phương Hồng Ngọc luôn được giao cho phần này.

Họa Mi



Giang Tử







Giang Tử
Sinh năm 1944 tại Hải Phòng, ba mẹ anh làm thương gia có tất cả tám người con. Năm 12 tuổi, anh theo nhạc sĩ Y Vân học hát, bạn bè đặt tên Giang Tử làm nghệ danh. Anh kể: "Nhạc sĩ Y Vân rất thương tôi. Ông dạy và uốn nắn tôi từng chút. Kỷ niệm về ông rất nhiều, nhưng vui nhất là nghe ông nói chuyện tiếu lâm. Có lẽ vì cái chất phóng khoáng, dễ gần gũi mà sáng tác của ông rất lạc quan. Người ca sĩ đàn anh giúp đỡ tôi rất nhiều và chỉ dạy tôi tận tình đó là anh Duy Trác. Tôi mang ơn hai người này trong sự nghiệp ca hát của tôi".
Năm 1968, ca sĩ Giang Tử nổi tiếng với ca khúc Căn nhà màu tím (sáng tác Hoài Linh) song ca với nữ ca sĩ Giáng Thu. Mỗi khi anh cất giọng: "Chiều nhìn ra đầu ngõ dâng dâng niềm thương nhớ dáng xinh xinh một người... Ngày nào qua đầu ngõ, ngang căn nhà màu tím biết em đang trộm nhìn", khán giả vỗ tay cổ vũ một mối tình thật đẹp trong ca khúc và cái tên Giang Tử bỗng gần gũi với số đông khán giả. Năm 1969 anh ký độc quyền cho Hãng dĩa Dư Âm, sau đó độc quyền cho Hãng dĩa Việt Nam, được cô Sáu Liên lăng xê song ca với nhiều nữ ca sĩ như: Hương Lan, Trang Mỹ Dung, Yến Linh, Giáng Thu... Anh luôn bảo: "Tôi đi nhiều, hiểu biết nhiều chuyện đời nên xem đó như vốn sống để hát. Đặt mình vào cái tình của người nhạc sĩ để cảm, để chia sẻ và để gieo cái đẹp cho những lứa đôi đang yêu. Mỗi ca khúc có lẽ vì thế mà quyện vào tôi như máu thịt".
Giang Tử tham gia hầu hết các đoàn ca nhạc quốc doanh từ Huế vào đến Cà Mau từ 1975 đến 1990. Anh gắn bó lâu nhất với ba đoàn: Kịch nói Kim Cương, Hương Miền Nam, Xiếc Tuổi Trẻ. Ngoài những ca khúc gắn liền với nghệ danh Giang Tử như: Hàn Mặc Tử, Yêu người như thế đó, Cô hàng xóm, Chuyện đêm mưa, Đập vỡ cây đàn, Căn nhà ngoại ô...,

Lệ Thanh












Cô có một giọng hát có âm lượng vang lộng và một âm sắc thật ngọt ngào. Cô được đào tạo bởi nhạc sĩ Hùng Lân chung một lò với Ngọc Loan và Thu Hà. Cuộc đời đi hát của cô vào những năm từ 1958 cho tới 1963 nổi tiếng như cồn.
Trong khoảng thời gian nổi danh, cũng như Thanh Thúy và Duy Khánh, Lệ Thanh hát vào dĩa nhựa rất nhiều. Đang lúc danh vọng lừng lẫy, cô bỏ đi lấy chồng. Cô chọn hạnh phúc gia đình và thật tâm xa lánh ca trường nhạc giới, không hề nuối tiếc danh vọng phù phiếm.
Ngày 20 tháng 9 năm 1980, nàng có trở lại sân khấu một lần duy nhất trong buổi ra mắt các sáng tác của nhạc sĩ Vy Hùng tại Montreal. Sau đó, nàng có cho thu âm một nhạc phẩm của Vy Hùng để làm kỷ niệm và sau đó được phát hành ra băng nhạc.

Thursday, November 17, 2011

THANH THUÝ : Tiếng Hát Khói Sương Chiêu Niệm.




Thanh Thuý là một nghệ sĩ có tư cách, có phẫm hạnh. Cô không gây một ngộ nhận nào cho nhóm ký giả ưa săn tin giật gân.
Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xưa chỉ có Lệ Thanh, Thanh Thuý và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền và biết tự trọng nhất.
Ở trên chót vót đỉnh danh vọng mà cô không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không bôi bẩn kẻ vắng mặt, không khoe khoang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí.
Cô có cái thông minh của cô gái sớm mồ côi, có cái uyễn chuyễn mềm mại của kẻ sớm chạm trán với cuộc đời gai góc, có tư cách cao sang để dọn đường đi lên xã hội thượng lưu.

Lần đầu tiên, vào năm 1959, tôi được xem Thanh Thuý đơn ca trong buổi đại nhạc hội do ban thoại kịch Kim Cương trình diễn tại rạp Aristo (đường Lê Lai) vào buổi xế. Thanh Thuý xuất hiện với chiếc áo dài trắng bằng lụa mềm mại và chiếc quần sa teng tuyết nhung trắng.
Cô hát bản "Chờ Anh Bên Đồi" của Xuân Tiên. Bản này hầu như không có chổ xuống trầm để Thanh Thúy biểu diễn giọng trầm và dội sâu của mình.
Cô chỉ có thể biểu diễn cái bẻ quặt giọng hát khi lên chổ hơi cao để giọng hát sắc vút lên một cách thống thiết. Sau đó,
Thanh Thúy hát bài "Nhạt Nắng" của Xuân Lôi.Bài này có vài chổ xuống trầm để cô biểu diễn giọng alto (bán trầm) ấm áp và rền rền. Khi xuống trầm, giọng cô như từ chiếc bánh bèo xứ Huế mỏng dính và mát rượi được căn phồng sinh lực để hóa thân thành cái bánh ít trần miền Nam dầy cộm.

Đã vậy, âm sắc của giọng quý báu kia thật nồng nàn, thật thắm đượm.
Bài "Nhạt Nắng" cũng có chổ khá cao để cô bẻ giọng làm phù thủy âm thanh, để diễn tả nổi đau đớn đến quằn quại như tích lũy từ bao đời tận đáy tâm khảm của cô.

Chổ xuống trầm là chổ hát chân truyền, còn chổ bẻ giọng là chổ quái chiêu. Khán thính giả bị thôi miên bởi những chổ quái chiêu đó, tức là những cái fantaisies kỳ lạ do cô sáng tạo để lối trình diễn của mình trở nên độc đáo, nổi bật hơn lối trình diễn của các ca sĩ thời danh trước cô và đồng thời cùng cô.

Nhà thơ lớn Hoàng Trúc Ly đã cảm khái về nhân dáng và về tiếng hát của Thanh Thúy qua những câu thơ lục bát như sau:
Ngày em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lằng nghe xương thịt tan thành hư vô.

Tiếng hát Thanh Thúy khàn đục ở những chổ ngang ngang và ở những chổ xuống trầm. Khi lên cao, cô không rống để giữ nguyên vẹn âm lượng. Cô tét qua giọng ẻo lả ỏn thót để tạo một thứ thống thiết, để diễn tả tâm trạng đau khổ đến cực độ. Và ở chổ ngang ngang, cô củng làm cho rạn nứt để khán thính giả có cảm tưởng mỗi khe nứt rướm máu, rướm nước mắt. Cô cố tình nhuộm âm sắc của giọng hát cô một màu đen đậm.

Thanh Thúy dàn trải làn hơi không đều, cho nên câu hát không dịu muốt như tháp bút. Nhưng khán thính giả bị lối trình bày uốn éo, xóay quặn của cô kích thích và thôi miên vào cơn đồng thiếp nên họ quên mất cái điểm then chốt đó. Cô là một nhà ảo thuật âm thanh.

Cô giỡn vọc âm thanh, bẻ vặn tiết điệu, bỏ đứt nếp chân truyền trong lối hát. Chính ở cách phá thể, ở những quái chiêu táo bạo đó cô thành công rực rỡ.

Chuỗi ngân của Thanh Thúy không đều, không gợn những nét mềm dịu. Nhưng khán thính giả cũng đâu cần điều ấy. Bắt đầu qua thập niên 60, đã có những Phương Dung, Thanh Tuyền, và sau nữa là Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan và Giáng Thu, nào có ai biết ngân nga mà vẫn nổi tiếng như cồn đó sao? Thanh Thúy dù ngân nga không vững lắm, nhưng còn biết kéo dài trường độ một nốt nhạc để có những lượn sóng hiện ra dù ít, dù hơi thô rít đi nữa.

Hai bản nhạc của Trúc Phương là "Nửa Đêm Ngòai Phố" và "Tàu Đêm Năm Cũ" chỉ được Thanh Thúy hát vài lần là nổi tiếng. Vào các thập niên 50,60,70, những bài hát theo thể điệu bolero của những nhạc sĩ thời danh như Song Ngọc, Minh Kỳ, Lê Dinh, Anh Bằng, Hòai Linh, Anh Việt Thu do cô diễn tả bằng cách tô đậm sắc tháim, bằng cách phá thể đều được khán thính giả đón nhận nồng nhiệt say sưa.

Ngòai ra những nhạc phẫm có giá trị như của Phạm Duy, Nguyễn Hiền, Lê Mộng Nguyên, Hoàng Trọng cũng được cô trình bày với phong cách gừng cay muối mặn, củng được hoan nghinh không kém. Cho nên liên tiếp ba năm, trong cuộc trưng bày ý kiến khán thính giả bốn phương do nhật báo Trắng Đen tổ chức, cô là nữ ca sĩ ăn khách nhất.

BẠCH YẾN: Tiếng Hát Trải Trên Miền Hoang Phế.

 
Sinh ra tại vùng châu thổ sông Cửu Long (Việt Nam), Bạch Yến gia nhập làng ca nhạc khi còn nhỏ tuổi và sớm nổi tiếng tại Sài Gòn với giọng hát đặc biệt trầm, mặc dù giọng thuộc loại cao(Mezzo Soprano), gắn liền tên tuổi với ca khúc “Đêm Đông” và hát được nhiều ngôn ngữ như tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái.

Năm 1965, Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang Hoa Kỳ tham gia chương trình truyền hình ăn khách nhất xứ Mỹ (với trên 30 triệu khán giả).
Một hợp đồng hai tuần với Ed Sullivan Show đã trở thành 12 năm lưu diễn khắp 46 tiểu bang xứ Bắc Mỹ với những danh ca, nghệ sỹ thượng thặng (như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Liberace, Pat Boone, Frankie Avalon, Joey Bishop, Mike Douglas), cùng một số quốc gia khác như Canada, Mexico và xuất hiện trên các đài truyền hình Nam Mỹ, Trung Mỹ.
Từ năm 1978, sau khi kết hôn với nhà nhạc học Trần Quang Hải, Bạch Yến theo chồng đi trình diễn dân ca ba miền đất nước trên khắp Âu Châu, qua Bắc Mỹ và Hoa Kỳ nên cô lơ là việc trình diễn thanh nhạc ở các sân khấu đại nhạc hội và hoàn toàn ly khai với vũ trường và phòng trà ca nhạc.
Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba thường bảo rằng luyện hát thanh nhạc và luyện hát dân ca khác nhau. Người đã quen hát thanh nhạc mà nhào qua dân ca thì chẳng những hát không đạt, lại còn hư giọng.
Ở trường hợp Bạch Yến, khi chuyễn qua dân ca, cô hát thật rựa ràng. Khi hát dân ca, Bạch Yến cũng thực hiện đầy đủ cách nhấn vuốt, cách luyến láy, ngân nga, không thiếu một bí quyết nào.
Đã vậy, cô lại bào mỏng tiếng ở chổ này, dồn phồng tiếng ở chổ kia, sáng tạo những cái huê dạng rất đẹp.
Giọng Bạch Yến vốn không cao. Nhưng đời nào cô chịu cái giọng khiêm tốn mà Trời đã ban cho cô.
Bởi đó cô ra công tập luyện giọng tét đó, chẳng những dài hơi mà còn ngọt ngào mịn mướt.
Hình như Bạch Yến được bố mẹ sinh ra để hát những bài Mỹ La Tinh hoặc những bản Âu La Tinh.
Bài "Malaguena" thuộc về Mỹ La Tinh, lời bằng tiếng Tây Ban Nha.Còn bài "Mamma" là bài của nước Ý.

Hát bài nay hay và khéo hay không ở chổ chuyền hơi , từ câu hát ngang ngang chuyền qua câu hát lên cao làm sao cho tiếng câu sau dầy lên, vang lanh lảnh như tiếng cồng hay tiếng phèng la dội vào vách đá.
Dù có giọng không phong phú, Bạch Yến hát không thua kém hai danh ca Mỹ là Connie Francis và Jerry Vale bao nhiêu.
Cô chuyền hơi thật mướt, cô dồn hơi ở câu lên cao thật sướng tai, tiếng hát như căn phồng lên, như dầy cộm hẵn ra. Và xin các bạn độc giả đừng quên Bạch Yến hát tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý rất rựa ràng.

Hồ Trường An
Xem thêm tư liệu về danh ca Bạch Yến :

Mở mắt chào đời tại vùng châu thổ sông Cửu Long (miền Nam Việt Nam), Bạch Yến gia nhập làng ca nhạc khi còn nhỏ tuổi và sớm nổi tiếng tại Saigon với giọng hát đặt biệt trầm mặc dù giọng thuộc loại cao (mezzo soprano), ngân nga phong phó qua những nhạc phẩm Việt Nam bất hủ như "Đêm Đông" và các nhạc phẩm ngoại quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nho, Ý hoặc Do Thái.
Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến sinh năm 1942. Hát lần đầu tiên lúc 7 tuổi tại rạp Norodome Phnom Penh, Cao Miên.
Năm 1953 đoạt giải nhất Huy Chương Vàng Thi Ca Nhi Đồng do Đài Phát Thanh Pháp Á (Radio Diffusion France Asie Saigon) trao tặng. Năm 1954 nghệ sĩ diễn Môtô bay. Năm 1956 trở lại với âm nhạc.
Năm 1961, Bạch Yến sang Paris để trau dồi nghệ thuật.
Được hãng đĩa Polydor mời thâu và đưa đi trình diễn một vòng qua Bỉ, Đức và Áo. Theo giao kèo, Bạch Yến phải hát loại nhạc twist thịnh hành lúc bấy giờ ở Âu châu, thời gian này được đánh dấu bởi ba đĩa hát và vài phim scopitones (như clips hiện giờ).
Năm 1965, Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang Hoa Kỳ tham gia Ed Sullivan Show, chương trình truyền hình ăn khách nhất xứ Mỹ (với 35 triện khán giả).
Một hợp đồng hai tuần với Ed Sullivan Show trở thành 12 năm lưu diễn khắp xứ Mỹ với những với những nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby, Mike Douglas, Joey Bishop, Pat Boone, và một số quốc gia Mỹ châu như Gia Nã Đại, Mễ Tây Cơ, Nam Mỹ, Venezuela, Colombia, Panama, cạnh những danh hề như Jimmy Durante, Carlos Almaran (Panama) kiêm tác giả bản Historia de Un Amor (1955), bản nhạc này có một thời rất phổ thông thịnh hành trên thế giới với tên Pháp "Histoired’Un Amour".
Với nhạc sĩ dương cầm danh tiếng Liberace diễn quanh 46 tiểu bang Hoa Kỳ và danh ca Frankie Avalon. Mike Qayne mời Bạch Yến về Hollywood để hát trong phim "Mũ nồi xanh"
(The Green Berets) do tài tử John Wayne đóng vai chính.
Lúc Bạch Yến tái ngộ Paris cũng là lúc cuộc sống và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng với sự gặp gỡ nhạc sĩ kiêm nghiên cứu dân tộc, nhạc học gia Trần Quang Hải
Sau trở thành phu quân của Bạch Yến. Trần Quang Hải thuyết phục Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam và kết quả là hai người đã cùng nhau trình diễn trên 3000 buổi hát dân ca khắp cả năm châu, mặc dầu thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc để đáp lại tấm thịnh tình của những người hâm mộ mình.
Hai người đã thâu chung 8 dĩa hát 33 vòng, và một CD với một đĩa trong đó được thưởng Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.
Là một ca sĩ đa tài, Bạch Yến đã có công đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền ca nhạc Việt Nam và nhất là vào sự giới thiệu và phổ biến nhạc Việt Nam với người ngoại quốc.
"Hồi Ký Sự Nghiệp 50 Năm Ca Sĩ" sẽ cho chúng ta biết những thăng trầm trong cuộc đời ca sĩ của Bạch Yến.

ELVIS PHƯƠNG : Tiếng hát của ngày xanh tuổi hồng.


Tôi không hiểu thành tích của Elvis Phương trong giới nhạc trẻ ra sao, nhưng trước năm 1968, mỗi khi nghe tới tên anh, tôi liên tưởng đến nam ca sĩ nhạc Rock trứ danh của Hoa Kỳ là Elvis Presley, một tên tuổi mà tôi không mấy ưa.
Tuy nhiên khi Elvis Presley hát bản "Summer Kisses Winter Tears", tôi nghĩ rằng khi chuyễn qua hát nhạc tình, anh ta tỏ ra có nhiều phong độ và khả năng.
Cái nhận định ấy, cái thiện cảm ấy vẫn làm cho trái tim tôi nở hoa khi nghe Elvis Phương hát bản "Không" của Nguyễn Ánh 9. Anh hát bài này quá hay ở chổ bào mỏng tiếng "Không" để chuyền qua câu thứ hai, nghe mà rợn cả người. Tôi tự nhủ:
"Tuổi trẻ và tâm tình của lớp người trẻ tuổi chẳng có phương tiện nào khác ngoài quyển nhật ký để viết cho bạn bè thân mến đọc. Giờ đây đã có tiếng hát hờn dỗi nũng nịu của Elvis Phương diễn tả hộ những câu chuyện lòng của họ."

Tiếng hát của Elvis Phương thuở đó vang lộng và sáng vằng vặc. Âm sắc nũng nịu như sẳn sàng hờn dỗi với cuộc đời rất là hồn nhiên, không phải do anh cố tình tạo ra để mê hoặc khán thính giả. Cái âm sắc đó vẫn không vì tuổi đời mà mất đi dù cái vang lộng và ngọt ngào có giảm thiểu đôi chút.

Có lẽ một phần vì đã từng xem Elvis Presley là thần tượng nên khi hát, anh bắt chước cách diễn tả của người danh ca Hoa Kỳ kia cho tới nhập tâm, chứ thật tình anh không cố ý nhỏng nhẻo với cuộc đời như câu trai tân trong xã hội trưởng giả được cha mẹ nuông chìu.

Chính nhờ cái nhâp tâm ấy, dù khi hát những ca khúc của Việt Nam, anh có một sắc thái thật độc đáo, thật quyến rũ. Đó là tiếng hát của ngày xanh tuổi hồng, thuở đó, các cậu trai tân, các cô trinh nữ yêu đương nhau bằng mối tình lãng mạn và trong trắng.

Giọng hát của Elvis Phương dù không phải là giọng dành để hát những bài âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây Phương, nhưng nó vẫn hát loại bài ấy một cách nghệ thuật như thường. Và hơn thế nữa, nhờ âm sắc độc đáo nó có thể làm cho cách diễn tả bài hát thêm nồng mặn.
Tiếng hát của Elvis Phương hơi nghẹt mũi, nhưng ít thôi, nếu không để ý thì không thấy. Làn hơi anh phong phú nên anh hát trôi chảy, do đó khi anh kéo dài làn hơi, chuỗi ngân tự động gợn sóng rập rờn và óng ả. Đó là một giọng trơn như mỡ, ngọt như mật ong.
Khi anh cất tiếng lên hát, tôi tưởng chừng nó lan khắp không gian bao la hoặc trải dài trên đường thiên lý hoặc giăng bàng bạc trên dãi trường giang ngút mờ khói sóng.
Tiếng hát Elvis Phương đem lại chúng ta thời mới lớn, mắt chúng ta thường đắm đuối nhìn về những chân trời xa lạ mà chúng ta đã gặp trong phim ảnh, trên trang sách.
Thuở đó, tai chúng ta dường như nghe những tiếng gọi xa xăm giục giã chúng ta lăn xả vào những thế giới lộng lẫy ảo mộng, có tình yêu, có lý tưởng, có những con đường trải rộng thênh thang đưa đến những khung trời tự do khoáng đạt, những hải đảo thần tiên.
Tiếng hát đó mang lại chúng ta những giấc mơ xa lạ được kết tinh từ những câu chuyện kể, những hình bóng xinh đẹp mà chúng ta chỉ gặp thoáng qua.
Nhưng tiếng hát đó cũng mang lại chúng ta nỗi bâng khuâng dìu dịu khi ta đi ngoài trời trăng lạnh hắt hiu. Chúng ta như nhớ nhung một điều gì không rõ rệt, nhưng chúng ta vẫn cứ buồn, một nổi buồn rất lãng mạn, rất trữ tình.

Tiếng hát của Elvis Phương là tiếng hát của tình yêu đầu đời, có cái hôn đầu tiên của đôi trai tân trinh nữ vậy. Chúng ta nghe tiếng hát ấy để có thể sống lại một chặng đời thần tiên cũ, có khi cách xa hiện tại nửa thế kỷ không chừng.

JO MARCEL : Tiếng Hát gấm mượt nhung mềm.



Jo Marcel đến với tôi bằng bài hát "Mộng Dưới Hoa" cuả Phạm Đình Chương trên sân khấu trình diễn nào, vaò dịp nào thì tôi không còn nhớ nổi. Tiếng hát anh thật gợi cảm, thật mơn trớn, thật âu yếm như gửi trọn vẹn vào một thần tượng tình yêu nào đó của anh.

Có những chổ anh dát giọng hát mỏng như the, mịn như nhung và sáng vời vợi như ánh trăng. Có lẽ chưa có ai hát bài này hay hơn anh.
Giọng Jo Marcel đẹp ở chổ không điệu đà. Nó đẹp ngay tự bản chất như chất tơ dùng để chế tạo ra lụa ra gấm, tự nó đã có chất mềm dẻo, mượt và đẹp mắt rồi.
Chính nghệ thuật diễn tả của anh làm cho tiếng hát anh thêm màu sắc, thêm bướm hoa để đẹp trội hơn.
Cũng vậy, nhờ hệ thống âm thanh tốt, nhờ xử dụng micro giỏi, nhờ giàn trải tình cảm khéo léo mà tiếng hát anh đậm đả và khởi sắc thêm.
Jo Marcel đến với ca trường nhạc giới gặp lúc nền tân nhạc bắt đầu xuống dốc. Bọn lái nhạc sáng tác chỉ nhắm vào thị hiếu thập kém của quần chúng mà không nhắm vào giá trị nghệ thuật.
Còn ca sĩ thì chỉ lấy cái lảnh lót để che tiếng hát yếu kém về về phương diện kỹ thuật , đã vậy họ lại không biết ngân nga ở tiếng chót của câu hát.

Vậy mà Jo Marcel vẫn có một cương vị riêng khi anh diễn tả chẳng những các nhạc phẫm có giá trị của Lê Trạch Lựu, Phạm Đình Chương, Phạm Duy, Thông Đạt, Trịnh Công Sơn, Ngô Thuỵ Miên..hay những nhạc phẩm mà giới sành điệu có thể chấp nhận như bài "Đường Xa Ướt Mưa" của Đức Huy chẳng hạn.

Về kỹ thuật, anh hát trội hơn Anh Khoa, và hơn thế nữa, cách diễn tả của anh tuy không mặn mà bằng cách diễn tả của Anh Khoa, nhưng có cái phong cách sang trọng và quý phái riêng.

Jo Marcel hát như mơn trớn sóng nhạc, như nâng niu âm thanh. Anh chỉ đưa vào giọng hát một chút điệu đà kín đáo ở lối phát âm theo kiểu phát âm người Mỹ. Ngoài ra, anh không dám trau chuốt từng tiếng bằng cách nhấn mạnh từng tiếng như Nhật Trường. Khi hát, anh cũng không nức nghẹn ở chổ này, láy qua láy lại ở chổ nọ, tét giọng nũng nịu với nữ khán thính giả ở chổ kia. Anh có tài dát mỏng giọng hát ở chổ ngang ngang, tức là ở chổ không cao không thấp.

Nhưng khi lên cao, anh rống to để cho tiếng hát tròn trịa, phì mỹ, vang lồng lộng ngọt ngào. Dát mỏng ở chổ ngang cho dẻo và cho mịn đã khó. Lên cao mà vẫn giữ cho tiếng dầy cộm và không mất âm lượng, không làm cho âm sắc gay gắt rít róng lại còn khó hơn. Hai cái khó đó, Jo Marcel chẳng những vượt qua được mà còn vượt qua một cách thoải mái, lưu loát và ngọt lìm lịm.

HOÀNG OANH : Tiếng Hát Thuở Sân Trường Phượng Thắm.



Năm 1963, tiếng hát Hoàng Oanh leo lên đỉnh cao của giới ca nhạc. Cô vô dĩa xối xả, chẳng những cô ca hát mà còn ngâm thơ. Cô có hát Đại nhạc hội vài lần, nhưng vì bận việc học hành nên cô bỏ cuộc.

Cô có tư cách nhất trong giới ca sĩ. Và cô có học lực cao: cử nhân văn chương ban Sử Địa. Đáng tiếc thay, cô không có ai hướng dẫn về phương diện trí thức. Cô hát bừa bãi những nhạc phẫm thương mãi, cô không luyện giọng theo phương pháp chân truyền.

Cô lại không giao thiệp với các nghệ sĩ ưu tú, trái hẵn với Kiều Chinh và Quỳnh Giao.
Nhưng mà tiếng hát Hoàng Oanh thật gợi cảm, thật ngọt, thật truyền cảm ở phần luyến láy. Cô tạo lối ngâm thơ riêng biệt, không giống lối ngâm thơ của ai khác, cực kỳ huê dạng, xứng đáng ở hàng đầu về tinh thần sáng tạo.

Tiếng hát Hoàng Oanh sáng rỡ như nắng mai, như ánh trăng rằm. Khi còn nhỏ, cô đã có một âm sắc thật quyến rũ như một thứ trái cây chín mùi và thơm sực nức. Đó là lúc thể chất cô đã tới thời kỳ dậy thì, nhưng nó chưa biến cô thành một thiếu nữ đâu.

Chiếc áo đầm vẫn còn giữ cho cô một dáng dấp cô gái vừa mới lớn. Nhưng tiếng hát của cô thì khác, nó gợi cho thính giả liên tưởng đến người hát phải là một thứ femme-enfant cực kỳ hấp dẫn, thật nồng mặn ý tình.
Hoàng Oanh dàn trải làn hơi không khéo lắm.

Ở chổ ngang ngang, cô hát dũng mãnh, sang sảng như chuông vàn, khánh ngọc, linh báu. Tiếng hát dầy cộm hẵn ra, long lanh ánh nước, sáng lóa mặt gương để đưa vào thính giác thính giả một âm vang đẹp tuyệt vời. Bởi cô dồn hơi và sinh lực ở chổ không lên cao không xuống thấp như thế, đến khi cô lên cao và xuống thấp, cô không đủ hơi để trang trải cho nên tiếng hát mỏng như tơ nhện, như vệt sương trên cỏ.

Lại nữa cô không tập chuyển giọng, từ chổ ngang ngang khi vút lên cao, cô xử dụng giọng mái một cách cẩu thả nên thính giả nhận ra ngay chổ chuyển giọng.

Cô không biết liệu cơm gắp mắm khi chuyển giọng, tức là phải chuyển giọng khi tiếng hát còn ở trong âm vực của nó. Đằng này, cô đợi tiếng hát lọt ra ngoài âm vực mới chuyển giọng, tức là đợi tới nước ngập chân mới nhảy thì chổ chuyển lòi ra, rõ mồn một.

Thái Thanh và Mai Hương chuyển giọng mái rất khéo, đố ai bắt gặp họ chuyển ở chổ nào. Lại nữa, Mai Hương điêu luyện hơn Thái Thanh ở chổ khi chuyển giọng thì giọng mái của cô thật ngọt. Trong khi đó, dù Thái Thanh có chuyển giọng mà thính giả không thể bắt gặp quả tang, tuy nhiên giọng mái của cô chua the thé.

Hoàng Oanh hát nhiều bài nịnh lính và những bài nhạc thương mãi không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng cô vẫn hát những bài có giá trị nghệ thuật đáng đồng tiền bát gạo như "Tan Tác" của Tu My, "Chinh Phụ Hoài Khúc" của Lê Xuân Ái, "Tình Sầu Biên Giới" và "Những Ngày Thơ Mộng" của Hoàng Thi Thơ,"Trăng Mờ Bên Suối" của Lê Mộng Nguyên, "Khối Tình Trương Chi" của Phạm Duy.

Nhưng ba bản mà cô trổ được tuyệt chiêu là "Ai Ra Xứ Huê" của Duy Khánh, "Biển Tình" của Lam Phương và "Hai Vì Sao Lạc" của Anh Việt Thu.

Ở bản "Ai Ra Xứ Huế", cô hò khá.....Huế, vô cùng truyền cảm, có thể gợi nên tiếng hò cô lái ở Kim Luông. Ở bài "Biển Tình", cô láy rất mềm mại, rất óng ả gợi nên hình ảnh những đợt sóng âu yếm hôn bờ cát vàng.

Ở bài "Hai Vì Sao Lạc", tiếng hát của cô rất là khuê các; ở chổ trầm và ở chổ cao, tuy tiếng cô hơi mỏng nhưng thật ngọt.








Trang Mỹ Dung













Trang Mỷ Dung
Trước 1975 ca sĩ Trang Mỹ Dung không xa lạ với khán thính giả miền Nam. Tiếng hát của chị được phát sóng trên đài phát thanh vào cuối năm 1967, và đến giữa năm 1968 chị bắt đầu đi hát ở các phòng trà, đại nhạc hội ở Sài Gòn, lưu diễn các tỉnh...
Nhạc phẩm thành danh của chị là bài Hai Mùa Mưa của nhạc sĩ Anh Bằng. Lúc mới bắt đầu đi hát chị được nghệ sĩ Tùng Lâm mời tham gia ban Tạp Lục cùng với Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, và sau này thêm Trang Kim Phụng.

Ban Sao Băng













Ban Tam Ca Sao Băng
Gồm có ba ca sĩ Thanh Phong, Duy Mỹ, và Phương Đại. Thanh Phong và Phương Đại có tái trình diễn bài Tôi Trở Về Thành Phố trong băng Paris by Night.
Phương Đại
Là ca sĩ trong ban tam ca Sao Băng, có thời gian hát solo và thu âm vào các băng nhạc sản xuất trước năm 1975 như Premier, Anh Việt Thu, Sóng Nhạc ...
Thanh Phong
Là thành viên của nhóm tam ca Sao Băng (cùng với Phương Đại và Duy Mỹ). Anh có thu âm vào đĩa nhựa của trung tâm Sóng Nhạc phát hành trước 1975.
Tác phẩm Anh Buồn Em Thương của anh đã được thu âm và phát hành lại tại hải ngoại sau 1975.